18:36 EST Thứ bảy, 24/02/2018

Menu

Góc giải trí

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 51


Hôm nayHôm nay : 1581

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 85304

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2792881

Tiếng Anh

Trang nhất » THCS Đề Thám » Tổ Chuyên môn » Tổ Ngữ Văn

Quang cao giua trang

Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn - lớp 8

Thứ hai - 03/04/2017 04:26
Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn - lớp 8

Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn - lớp 8

 

PHẦN I:

THƠ CA YÊU NƯỚC VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 

 

I. Văn học yêu nước và cách mạng

   1. Lực lượng sáng tác :

- Lực lượng sáng tác chủ yếu của dòng văn học yêu nước và cách mạng giai đoạn 1900 - 1930 là các nhà Nho. Nhưng đây là những nhà nho có tư tưởng tiến bộ. Họ là những người trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào các phong trào cách mạng lúc bấy giờ. Họ cũng từng là những "chí đồ đệ" của Khổng Tử nhưng lập trường tư tưởng của họ khác với lớp nhà nho trước kia. Họ đã được tiếp nhận các luồng tư tưởng tiến bộ từ nước ngoài truyền vào, thông qua sách báo, mà tiêu biểu là tân thư và tân văn. Họ quan niệm văn chương cũng là một loại vũ khí đánh giặc cứu nước, cho nên họ đã sáng tác văn chương để phục vụ cho hoạt động chính trị. Ðó là những người như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Quyền,.....  

- Quần chúng lao động cũng là những người sáng tác tích cực của bộ phận văn học yêu nước và cách mạng ở giai đoạn này.  

- Ngoài ra còn có một lực lượng không nhỏ những tác giả mà chúng ta chưa được biết tên tuổi. Tác phẩm của họ có nội dung thể hiện tinh thần yêu nước thiết tha, ý chí đấu tranh chống giặc đến cùng, Vì muốn tránh sự theo dõi của mật thám, họ thường dấu tên họ và bí mật phổ biến tác phẩm của mình.  

2. Những bước thăng trầm của văn học yêu nước và cách mạng giai đoạn 1900 - 1930:  

- Từ năm 1905 đến 1908, thơ văn yêu nước và cách mạng theo xu hướng dân chủ tư sản phát triển cao. Có văn thơ của phong trào Ðông Du, có văn thơ của Ðông Kinh nghĩa thục, văn thơ chống thuế ở Trung Kỳ. Người sáng tác bao gồm cả sĩ phu và quần chúng lao động.  

- Văn thơ Ðông Du chủ yếu từ nước ngoài gửi về nên có điều kiện nói mạnh, nói trực tiếp những vấn đề muốn nói, nhìn chung thể hiện tinh thần lao động chống Pháp. Hai cây bút trụ cột của văn thơ Ðông Du là Phan Bội Châu và Nguyễn Thượng Hiền.  

- Văn thơ của phong trào Duy Tân, tiêu biểu là Ðông kinh nghĩa thục thiên vào nội dung cải cách xã hội, thể hiện tinh thần yêu nước, nêu lên các quan niệm mới mẻ về đất nước, xã hội, nhân sinh... Ðóng góp nhiều cho văn thơ của phong trào Duy Tân phải kể đến Phan Châu Trinh, Nguyễn Phan Lãng, Lê Ðại, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Ðức Kế...

- Văn thơ của phong trào chống thuế ở Trung Kỳ phần lớn không rõ tên tác giả và dần dần nó đã hòa nhập vào kho tàng văn học dân gian. Số văn thơ này như: Ca dao chống áp bức bóc lột, Bài vè sưu thuế lạm thu, Vè thuế nặng, Bài hát xin xâu.v.v... Ðặc điểm nổi bật của bộ phận thơ văn chống thuế ở Trung Kỳ là phản ánh một cách sâu sắc nỗi khổ của nhân dân.  

- Nhìn chung, trong khoảng thời gian này số người tham gia sáng tác thơ văn yêu nước rất đông, lượng tác phẩm ra đời cũng rất nhiều. Hơn nữa, vấn  đề lưu truyền phổ biến cũng khá rầm rộ. Người ta làm đủ mọi cách để các tác phẩm đến được với độc giả. Người ta dịch ra quốc âm, chép tay rồi chuyền cho nhau hoặc còn đưa vào chương trình giảng dạy ở trường Ðông Kinh nghĩa thục.v.v... Với nội dung yêu nước tiến bộ, hừng hực tinh thần  cách mạng, ý chí quyết tâm đánh giặc, thơ văn yêu nước ra đời trong giai đoạn này đã tạo ra những ảnh hưởng lớn, có lợi cho phong trào cách mạng.  

- Từ năm 1908 đến năm 1912, văn thơ yêu nước và cách mạng rơi vào tình trạng bế tắc. Cuối năm 1908, cách mạng bị khủng bố, chính lúc đó thơ văn yêu nước cũng bắt đầu lâm vào tình thế khó khăn. Số lượng tác phẩm ra đời rất ít, chất lượng cũng giảm sút rõ rệt.  

- Các nhà nho tham gia phong trào Ðông Du, trong cơn thất vọng nhất thời, không còn cảm hứng để sáng tác. Phan Bội Châu phải chạy trốn sang Thái Lan, nghiên mực tàu của ông dường như khô cạn.  

- Các sĩ phu thuộc nhóm Ðông kinh nghĩa thục thì phần lớn bị bắt, bị đày ra Côn Ðảo. Lúc đầu thơ văn yêu nước theo các chí sĩ vào nhà tù cũng được phát triển khá cao, nhưng dần dần về sau cũng giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng.  

- Năm 1912, Việt Nam quang phục hội ra đời, khí thế cách mạng có chiều hướng bùng lên sau những ngày tạm lắng. Một số thơ văn hiệu triệu cách mạng lại xuất hiện. Văn học yêu nước và cách mạng ra đời trong thời điểm này, tiếp tục thể hiện những nội dung cũ, nhưng đã bắt đầu mang âm điệu khác trước, tính chất cổ động, khích lệ  đấu tranh  có phần giảm sút, để rồi sau đó bộ phận văn học này trở về với tình trạng lơ thơ, khí thế sôi nổi, hừng hực tinh thần cách mạng mất dần.  

- Nhìn chung thơ văn cách mạng từ sau khủng bố của giặc Pháp, năm 1909 vẫn tồn tại, nhưng chất  lượng và số lượng không bằng những năm trước đây. Trong khi đó văn thơ châm biếm thời thế, đả kích bọn quan lại, tay sai, thổ lộ chút lòng thương nước, thương dân, khóc những nhà cách mạng hy sinh trong các cuộc khủng bố của quân thù.... của những cây bút không tham gia cách mạng nhưng ít nhiều có tinh thần dân tộc vẫn tiếp tục ra đời, mặc dù không có những bài thật xuất sắc. Tuy nhiên, số tác phẩm nói trên chưa sưu tầm được đầy đủ, nói chung là chưa thể khôi phục lại đầy đủ bộ mặt văn học của quần chúng yêu nước hồi này. Nhưng có thể khẳng định ở chặng này cũng như các chặng khác, dòng văn học dân gian tố cáo sự bóc lột của kẻ thù, phơi bày tội ác của quần chúng vẫn không vơi cạn.  

- Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, phong trào ái quốc dân chủ lại sôi nổi trong cả nước nhưng chỉ giới hạn ở các đô thị. Văn thơ yêu nước lại phát triển cùng với phong trào cách mạng mang tính chất đòi tự do dân chủ theo xu hướng tư sản. Văn thơ cách mạng bấy giờ trở lại thời kỳ sôi nổi, rầm rộ, có thơ văn trong nước và cả thơ văn từ nước ngoài đưa về, có thơ văn phổ biến bí mật và cả thơ văn phổ biến công khai. Văn thơ công khai phần lớn xuất hiện trong phong trào ái quốc dân chủ 1925 - 1926, xoay quanh các sự kiện chính, đòi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Châu Trinh, học sinh bãi khóa,…

 - Những năm cuối của thập niên thứ ba, văn học yêu nước và cách mạng theo xu hướng cách mạng tư sản dần dần xuống dốc. Trước khi mất hẳn, nó cũng góp phần sưởi ấm cho những tâm hồn buốt lạnh và là tiếng nói của dân tộc trong những ngày chờ đón luồng tư tưởng mới nhất của thời đại, tư tưởng cách mạng vô sản.  

- Cũng trong thời gian này, mầm mống của văn học cách mạng theo xu hướng vô sản đã được nảy nở. Ðặc điểm của văn học này là còn ít tính chất văn nghệ, nhiều tính chất chính trị nhưng nội dung đã tiến bộ hơn hẳn dòng văn học tư sản cùng giai đoạn.  

  3. Nội dung của văn học yêu nước và cách mạng:

   *Thể hiện tư tưởng yêu nước tiến bộ:                     

- Trong thơ văn yêu nước ở đầu thế kỷ XX, vấn đề yêu nước còn được gắn liền với vấn đề cách mạng. Chống giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước đó là chuyện chung của nhiều thời đại có ngoại xâm. Nhưng chống giặc để rồi không trở lại chế độ phong kiến mà tiến lên xây dựng chế độ dân chủ tư sản là một đổi mới trong lịch sử của dân tộc. Ðó cũng là nội dung chủ yếu của văn thơ cách mạng giai đoạn 1900 - 1930.

- Yêu nước bấy giờ được biểu hiện bằng hành động cụ thể là tham gia đánh giặc cứu nước và tiến hành cải cách xã hội.           

- Trong thơ văn yêu nước, đầu thế kỷ XX, yêu nước và vấn đề dân chủ gắn liền nhau. Xuất phát từ quan niệm mới về đất nước, yêu nước các tác giả đã đi đến khẳng định quyền làm chủ của người dân trong xã hội, đồng thời cũng khẳng định vai trò của người dân trong sự nghiệp cứu nước. Mục đích cứu nước lúc bấy giờ là vì dân chứ không phải vì vua.

 *Văn học yêu nước và cách mạng là lời tuyên truyền vận động cứu nước.

 - Sống trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, dân khổ nhục, nhà nho luôn có ý thức về trách nhiệm và rất mong muốn tìm ra con đường cứu nước và làm cho đất nước giàu mạnh, sánh kịp các nước châu Âu. Nhưng họ chỉ có trong tay một thứ vũ khí là văn chương, họ muốn biến nó thành công cụ vạn năng "vừa là trống vừa là chiêng thức tỉnh người mê ngủ, vừa là gươm là súng đánh đổ cường quyền." (Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX -Ðặng Thai Mai, trang 20).

- Trong thời điểm này các nhà nho nhận thấy văn chương chân chính có một khả năng to lớn, một chức năng quan trọng: Tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, tập hợp lực lượng để chống giặc cứu nước.

- Văn chương còn góp phần vào việc bồi dưỡng tình cảm cho con người, đánh đổ tinh thần tự ti, xây dựng tình cảm mới, nhắc nhở rằng nhục nô lệ chỉ có thể rửa sạch và được rửa sạch bằng tinh thần đấu tranh của toàn thể đồng bào. Phan Bội Châu đã cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất nước là do nhân dân ta xung khắc, bất hòa đã ngờ nhau chẳng biết tin nhau, coi nhau như thể quân thùì mà "bụng có hợp thì nhà mới hợp" còn "lòng đã tan thì nước cũng tan."  

- Văn chương tuyên truyền ở giai đoạn đầu thế kỷ XX cũng nhắc nhở truyền thống nhưng chú ý đến hiện tại nhiều hơn. Các tác giả lấy hiện thực trước mắt để làm cơ sở thuyết phục, vận động cứu nước. Ðó là hiện thực của xã hội thiếu dân chủ, của nền kinh tế lạc hậu thấp kém, của một hoàn cảnh chính trị rối ren, của cuộc sống khổ nhục, lầm than vì ách thống trị hà khắc do thực dân Pháp gây ra. Chính vì vậy mà tác dụng tuyên truyền rất cao đã khiến cho kẻ thù thấy đó là mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự thống trị của chúng. Cho nên chúng đã tìm mọi cách để ngăn chặn.

 4. Vấn đề cách tân nghệ thuật trong văn học yêu nước và cách mạng.

- Lực lượng sáng tác văn chương đầu thế kỷ XX chủ yếu là các nhà nho, nhà khoa bảng. Ðối với họ chữ Hán, chữ Nôm là phương tiện thông dụng nhất và quen thuộc đến thành nề nếp.

- Trước yêu cầu mới của xã hội, người sáng tác phải đưa tác phẩm của mình đến với phong trào cách mạng, dùng văn chương để tuyên truyền giáo dục tư tưởng mới cho quần chúng.

- Do yêu cầu sáng tác để tuyên truyền nên các tác phẩm thời này thường chú ý đến việc nói cho dân nghe, viết cho dân hiểu. Vì vậy họ phải viết bằng tiếng nói, âm điệu mà nhân dân quen thuộc, ưa thích. Muốn cổ động có tác dụng họ phải chú ý trình bày rành mạch, khúc chiết, phải mô tả thực tế, phải khêu gợi, phải lâm li, giàu tình cảm, phải có sức kích động. Bởi thế văn chương thời này cũng trút bỏ hết giọng uỷ miñ, yếu đuối, trở nên hùng tráng, đanh thép để cảm động, lôi cuốn.

"Dây! Dậy!

Bên án tiếng gà vừa gáy...

Ði cho êm! Ðứng cho vững! Trụ cho gan!..."

            (Bài ca Chúc Tết thanh niên).  

- Văn vần vẫn là hình thức được ưa chuộng nhất trong thời này. Ðầu thế kỷ XX phổ biến hình thức diễn ca. Có những văn bản chính luận đã được diễn ca nhằm mục đích đưa tư tưởng mới đến với quần chúng được dễ dàng. Ðó là trường hợp của "Hải ngoại huyết thư" của Phan Bội Châu. Diễn ca được các nhà yêu nước dùng để thể hiện những nội dung tuyên truyền cứu nước rất phù hợp với điều kiện xã hội lúc bấy giờ. Người ta có thể đọc cho nhau nghe, nhớ lâu, dễ thuộc không cần phải in thành sách vở...  

     - Ðể đạt được hiệu quả trong tuyên truyền, các tác giả văn thơ yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX đã cách tân nghệ thuật sáng tác, tạo nên những đổi mới so với trước kia. Tuy nhiên văn phong của họ tỏ ra rất bề bộn, chữ Hán, chữ quốc ngữ pha tạp, các thể loại truyền thống và hiện đại đan xen. Họ chưa bỏ được lối viết văn biền ngẫu, nhiều bài thơ thời này còn bị pha trộn một vài câu hoặc một đoạn thơ chữ Hán cầu kỳ khó. Nhiều từ ngữ xa lạ, tên đất, tên người thật đặc biệt được mang vào trong tác phẩm một cách tuỳ tiện, làm cho bài văn, bài thơ trở nên nặng nề tạo cảm giác khó chịu đối với người đọc. Có thể khẳng định đây là một đặc điểm chỉ tìm thấy ở văn học giai đoạn này.  

 

II. Cuộc đời hoạt động cách mạng và sự nghiệp sáng tác của Phan Châu Trinh        

- Phan Châu Trinh sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam, hiệu là Tây Hồ Hy Mã, tự là Tử Cán.

- Cha ông là Phan Văn Bình, làm chức Quản cơ sơn phòng, sau tham gia phong trào Cần Vương trong tỉnh, làm Chuyển vận sứ đồn A Bá (Tiên Phước) phụ trách việc quân lương. Mẹ ông là Lê Thị Trung, con gái nhà vọng tộc, thông thạo chữ Hán, ở làng Phú Lâm, huyện Tiên Phước.

- Mẹ ông mất sớm vào năm ông lên 6 tuổi. Quê nhà bị quân Pháp đốt cháy trong cuộc trấn áp phong trào Cần vương, nên ông phải theo cha, được cha dạy chữ và dạy võ. Sau khi cha mất, ông trở về quê sống với anh là Phan Văn Cừ và tiếp tục đi học. Ông nổi tiếng học giỏi, năm 27 tuổi, được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, 

Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang, và Phạm Liệu.

- 1900, Phan Châu Trinh đỗ cử nhân thứ ba ở trường Thừa Thiên. Năm sau 1901, triều đình mở ân khoa, ông đỗ phó bảng, đồng khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế và phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Khoảng thời gian này, người anh cả mất nên ông về để tang, ở nhà dạy học đến 1903 thì được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ.

- Năm 1887 ông bí mật sang Nhật, gặp Phan Bội Châu trao đổi ý kiến về việc giải phóng đất nước khỏi sự cai trị của thực dân Pháp. Ông là người có học vấn, lại tiếp xúc với nhiều người có tư tưởng canh tân và đọc được các tân thư.

- Năm 1905, ông từ quan, rồi cùng với hai bạn học là Trần Quý Cáp  Huỳnh Thúc Kháng (cả hai đều mới đỗ tiến sĩ năm 1904) làm một cuộc Nam du, với mục đích xem xét dân tình, sĩ khí và tìm bạn đồng chí hướng.

- Năm 1906, ông bí mật sang Quảng Đông (Trung Quốc) gặp Phan Bội Châu, trao đổi ý kiến rồi cùng sang Nhật Bản, tiếp xúc với nhiều nhà chính trị tại đây (trong số đó có Lương Khải Siêu) và xem xét công cuộc duy tân của xứ sở này.

- Trong số các sỹ phu đương thời và cả sau này, Phan Châu Trinh là người thấy rõ nhất những nhược điểm của con người và xã hội Việt Nam. Ông chủ trương phải thay đổi từ gốc rễ bằng cách nâng cao trình độ trí tuệ và đạo đức của người Việt, phát triển kinh tế - văn hóa, học những tư tưởng tiến bộ của Phương Tây, từ bỏ phong tục tập quán lạc hậu... Để thực hiện chủ trương của mình, ông đã tổ chức phong trào Duy Tân và viết những bản kiến nghị gửi lên chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương đề nghị họ thực hiện cải cách.

- Mùa hè năm 1906, Phan Châu Trinh về nước. Việc làm đầu tiên là gửi một bức chữ Hán (quen gọi là Đầu Pháp chính phủ thư) cho Toàn quyền Paul Beau vạch trần chế độ quân chủ chuyên chế thối nát, yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thay đổi thái độ đối với sĩ dân nước Việt và sửa đổi chính sách cai trị để giúp người Việt từng bước tiến lên văn minh.

Sau đó, với phương châm "tự lực khai hóa" và tư tưởng dân quyền, Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đi khắp tỉnh Quảng Nam và các tỉnh lân cận để vận động cuộc duy tân.

- Tháng 7 năm 1907, Phan Châu Trinh nhận lời mời ra Hà Nội tham gia diễn giảng mỗi tháng 2 kỳ ở Đông Kinh nghĩa thục.

- Tháng 3 năm 1908, phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ nổ ra, và bị triều Nguyễn và chính phủ bảo hộ Pháp đàn áp dữ dội. Phan Châu Trinh cùng nhiều thành viên trong phong trào Duy Tân bị nhà cầm quyền buộc tội đã khởi xướng phong trào chống thuế nên đều bị bắt.

- Phan Châu Trinh bị bắt ở Hà Nội, giải về Huế. Tòa Khâm sứ Huế và Nam triều đều muốn khép ông vào tội chết. Nhưng nhờ sự can thiệp của những người Pháp có thiện chí và những đại diện của Hội Nhân quyền tại Hà Nội, họ buộc lòng phải kết ông án "trảm giam hậu, lưu tam thiên lý, ngộ xá bất nguyên" (nghĩa là tội chém nhưng chỉ giam lại, đày xa ba ngàn dặm, gặp ân xá cũng không cho về), rồi đày đi Côn Đảo ngày 4 tháng 4 năm 1908.

- Nhờ dư luận trong nước và nhờ có sự vận động của Hội Nhân quyền ngay trên đất Pháp, đầu mùa hè năm 1910, Thống đốc Nam Kỳ theo lệnh của Toàn quyền Đông Dương ra Côn Lôn thẩm vấn riêng Phan Châu Trinh. Tháng 8 năm đó, ông được đưa về đất liền. Tại Sài Gòn, một hội đồng xử lại bản án cho ông được ân xá, nhưng buộc xuống Mỹ Tho chịu quản thúc. Ở đây, ông làm nhiều bài thơ về các nhân vật tên tuổi của Nam Kỳ.

- Bởi không hoạt động gì được, ông viết thư cho Toàn quyền Đông Dương đòi được sang Pháp hoặc trở lại Côn Lôn, nhất định không chịu cảnh bị giam lỏng ở Mỹ Tho nữa. Vì vậy, nhân có nghị định ngày 31 tháng 10 năm 1908 của chính phủ Pháp về việc lập một nhóm giảng dạy tiếng Hán tại Pháp, năm 1911, chính quyền Đông Dương cử một đoàn giáo dục Đông Dương sang Pháp, có cả Phan Châu Trinh và con trai là Phan Châu Dật.

- Sang Pháp, việc đầu tiên của ông là đưa cho Hội Nhân quyền Pháp bản điều trần về vụ trấn áp những người dân chống sưu thuế tại Trung Kỳ năm 1908. 

- Sau đó, ông còn lên tiếng tố cáo tình trạng các tù nhân ở Côn Lôn bị đối xử tồi tệ, và nhờ Liên minh cầm quyền, Đảng Xã hội Pháp can thiệp nhằm giảm án cho các đồng chí của mình.

- Mãi đến năm 1925, khi thấy sức khỏe ông đã suy yếu, nhà cầm quyền Pháp mới cho phép ông về nước. Khoảng thời gian này, ông viết cuốn Đông Dương chính trị luận.

- Ngày 29 tháng 5 năm 1925, Phan Châu Trinh cùng nhà cách mạng trẻ Nguyễn An Ninh xuống tàu rời nước Pháp.

- Đúng  21 giờ 30 ngày 24 tháng 3 năm 1926 Phan Châu Trinh qua đời. 

- Khi Phan Châu Trinh qua đời, có rất nhiều cá nhân và tổ chức gửi câu đối và thơ văn đến đám tang của ông.

 

                         Mộ Phan Châu Trinh tại Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

- Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ. Có thể xem ông là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ.

- Đặc biệt hơn nữa, ông chọn con đường dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động. Ông coi dân chủ cấp bách hơn độc lập và coi việc dùng luật pháp, cai trị quy củ có thể quét sạch hủ bại phong kiến.

- Với tinh thần yêu nước nồng nàn, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian khó và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ, noi theo.

 

III. Hình tượng người chí sĩ cách mạng trong bài thơ Đập đá ở Côn Lôn - Phan Châu Trinh

    Đầu thế kỷ XX, người anh hùng yêu nước Phan Bội Châu đã từng cho rằng việc ở tù chỉ là lúc tạm nghỉ chân trên con đường cứu nước. Phan Châu Trinh cũng vậy, mọi đày ải, khổ cực chốn lao tù đối với ông chỉ là việc “con con”, là chút ít thử thách để bộc lộ chí khí của người nam nhi. Con người ấy hiện lên thật đẹp, thật lẫm liệt, ngang tàng trong bài thơ Đập đá ở Côn Lôn được viết khi tác giả bị đày ở Côn Đảo.

Côn Đảo – nơi trước kia được mệnh danh là “địa ngục trần gian”, nơi mà thực dân Pháp đã lập nên nhà tù giam cầm những người chiến sĩ yêu nước và cách mạng vcới tất cả những kiểu đày ải, tra tấn con người tàn nhẫn nhất. Chúng quyết tâm làm lung lay, tiêu tan ý chí, lý tưởng của những người tù yêu nước. Chúng nhầm tưởng rằng sẽ dễ dàng khuất phục được lòng yêu nước của những người tù An Nam.

Nhưng những con người ấy với dòng máu nóng của hồn Việt, với tinh thần quả cảm, ý chí kiên cường luôn tỏ rõ được thế đứng bất khuất trước kẻ thù. Dù lúc nào họ cũng phải đối mặt với những đày ải, lao động khổ sai nặng nhọc, dã man nhất. Dù phải chống chọi với cái khắc nghiệt giữa nơi đảo xa trơ trọi, giữa biển khơi, giữa cái ngột ngạt nơi nhà tù kìm hãm, bó buộc thể xác con người, những người tù yêu nước như Phan Châu Trinh vẫn luôn dõng dạc thể hiện chính mình trước kẻ thù, trước trời đất:
                            Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn
                           Lừng lẫy làm cho lở núi non

“Làm trai” – Phan Châu Trinh đầy tự hào khi được là một đấng nam nhi đứng giữa trời đất. Rất kiêu hãnh, người anh hùng đã tự khẳng định mình với tất cả khát vọng mãnh liệt được cống hiến cho đời. Hình ảnh người trai sừng sững đứng giữa đất Côn Lôn, đầu đội trời chân đạp đất, hiên ngang ngẩng mặt trước thiên nhiên rộng lớn làm ta chợt gặp lại một Nguyễn Công Trứ cũng với ý chí ấy:
                           Đã mang tiếng ở trong trời đất
                          Phải có danh gì với núi sông.

Tiếp nối với quan niệm truyền thống, Phan Chu Trinh đã thể hiện rõ bản lĩnh của những con người đất Việt anh hùng. Vẻ đẹp hùng tráng của ông còn được thể hiện qua hành động, qua sức mạnh của kẻ làm trai: “Lừng lẫy làm cho lở núi non”.

Đấng nam nhi không hề e ngại trước công việc đập đá nặng nề, mệt nhọc mà quyết chí làm cho “lở núi non”, quyết chí thể hiện cái tôi bản lĩnh, cái chí làm trai mong mỏi, khao khát được “lừng lẫy”, vang danh trong trời đất. Người anh hùng ấy với tư thế chủ động vượt lên cả thân phận của người tù để thể hiện chính mình, khẳng định sức mạnh bản thân:

                         Xách búa đánh tan năm bảy đống
                        Ra tay đập bể mấy trăm hòn

Đập đá giờ đây không còn là công việc khổ sai, không còn là nỗi ám ảnh nặng nề trong công việc của người tù. Đập đá đối với Phan Chu Trinh bỗng chốc trở thành một cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên. Và hiện ra trong cuộc chiến đấu ấy là tư thế hùng dũng của người anh hùng trong thần thoại, lẫm liệt, phi thường. Vận dụng lối khoa trương trong văn chương truyền thống, việc đập đá thể hiện một sức mạnh ghê gớm “đánh tan năm bảy đống” – “đập bể mấy trăm hòn” với hành động hết sức dứt khoát, nhanh lẹ, nhẹ nhàng “xách búa” – “ra tay”.         Hai câu thực đã thật sự làm choáng ngợp trong tâm trí người đọc hình ảnh người tù yêu nước thật đẹp, thật kỳ lạ trong cái tư thế ngạo nghễ hiên ngang giữa vũ trụ đất trời với tất cả lòng ngưỡng mộ và kính phục.

Bên trong con người anh hùng đầy hiên ngang đầy kiêu hãnh, bên trong cái giọng điệu hùng dũng hào sảng là cả một con người son sắt niềm tin, bền gan vững chí, một con người mang đầy tâm trạng trước thời cuộc với giọng điệu lãng mạn:

                       Tháng ngày bao quản thân sành sỏi
                       Mưa nắng càng bền dạ sắt son

Đã bước vào con đường cứu nước, giải phóng dân tộc nghĩa là người anh hùng Phan Chu Trinh đã chấp nhận chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, vậy thì sá gì tháng ngày – mưa nắng, sá gì thử thách cuộc đời. Để rồi càng vất vả, càng thử thách thì người anh hùng càng chịu đựng dẻo dai, càng kiên cường bất khuất. Và việc chịu cảnh tù đày, lao động khổ nhọc chỉ làm cho phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cứu nước được khắc hoạ rõ nét hơn mà thôi. Lời khẳng định đầy khí phách, đầy rắn rỏi của người tù khiến ta hiểu thêm, yêu thêm, phục thêm cho một con người xem thường mọi gian lao thử thách và luôn vững niềm tin, vững lòng vững dạ không nguôi đi ý chí chiến đấu của mình.

Không phải ai cũng như Phan Chu Trinh, giữa hoàn cảnh đầy khắc nghiệt như vậy mà lại có khẩu khí ngang tàng:

                                 Những kẻ vá trời khi lỡ bước
                                 Gian nan chi kể việc con con

      Thần thoại Trung Quốc đã có một bà Nữ Oa đội đá vá trời thì trong công việc cứu nước ngày nay, có những con người gan dạ, anh hùng đã tự nhận, tự khẳng định mình là “những kẻ vá trời” để nói lên chí lớn của bản thân trước những thử thách gian nan trên đường chiến đấu. Phan Chu Trinh đã biến công việc “đập đá” khổ sai trở thành một hình tượng thơ thật đẹp, thật ý nghĩa. Đập đá đối với ông là cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên, còn là công việc gian nan chiến đấu, thực hiện lý tưởng cách mạng, một hành trình đầy chông gai.

      Tự nhận là những kẻ vá trời còn là thể hiện một chỗ đứng quyền uy, một công việc chính nghĩa để đối chọi với kẻ thù. Và khi sa vào chốn đầy ải tù đày, thì người anh hùng chỉ xem là lúc lỡ bước thường tình, là việc con con thì có gì đáng kể. Người anh hùng đã xem thường hoàn cảnh, không chịu khuất phục trước “gian nan” tầm thường để giữ vững được ý chí, niềm tin, để cất lên câu thơ đầy tự hào mang khẩu khí ngang tàng đáng nể phục. Ta thấy được, cảm nhận được một tâm hồn thật đẹp của người tù yêu nước, một tâm hồ nthanh cao, kiên cường, quyết chí vì công cuộc cách mạng, vì tự do của dân tộc.

       Vẻ đẹp tâm hồn và vẻ đẹp của tầm vóc Phan Chu Trinh đã làm nên một hình tượng người anh hùng vừa oai phong lẫm liệt vừa sâu sắc tình cảm. Bài thơ vừa mang cái không khí hào hùng sôi nổi của người chiến sĩ cách mạng, vừa chứa đựng cả một tấm lòng, một tinh thần đẹp đẽ, giàu xúc cảm. Vì vậy mà hình ảnh người tù yêu nước Phan Chu Trinh đã hằn sâu vào tâm trí người đọc tự nhiên, nhẹ nhàng, trong niềm cảm phục khôn nguôi.

       Đập đá ở Côn Lôn – nói đến chuyện đập đá mà không chỉ là đập đá, nói đến chuyện đày ải cực nhọc mà không thấy chút tiều tụy khổ sở của người tù khổ sai. Bài thơ hiện lên trước mắt ta là một bức chân dung rất thực về ý chí, tinh thần người làm trai không nề hà gian nguy, vất vả, luôn đặt mình lên trên cái ngột ngạt, khổ sở chốn “địa ngục trần gian” để khẳng định một tư thế hiên ngang của người anh hùng Việt Nam.


IV. Tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Tản Đà

 

Nhà thơ Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889

§             Tại Khê Thương, Sơn Tây, Việt Nam

§             Mất ngày 7 tháng 6 năm 1939

§             Công việc: nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà viết kịch

 

- Tản Đà : tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam.  Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

- Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỹ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là “gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại”.

- Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

- Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều.

- Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm (mẹ Tản Đà) bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

- Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1884, nối nghiệp cha đi thi đỗ và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn.

SỰ NGHIỆP

- Từ thập niên 1920 cho đến nửa đầu thập niên 1939, văn đàn Việt Nam không có một nhà thơ nào nổi tiếng và được yêu mến như Tản Đà. Kể cả khi phong trào thơ mới xảy ra, thì Tản Đà, sau khi “phái thơ mới” bị đả kích kịch liệt lại được chính những người đả kích mời về ngồi chiếu trên. Trong cuốn “Thi Nhân Việt Nam”, cuốn sách bình luận thơ mới rất giá trị, Hoài Thanh và Hoài Chân đã đặt bài tưởng niệm Tản Đà lên những trang đầu, với lời lẽ tôn kính.

Thơ cũng là lĩnh vực quan trọng nhất trong sự nghiệp phong phú của Tản Đà. Ông được coi là một thi sĩ, hơn hết các nghề khác. Ông sáng tác rất nhiều thơ, nhiều thể loại – cả về nội dung lẫn hình thức. Thơ ông hay diễn tả cảm giác say sưa, chán ngán đời thực, đắm chìm trong cõi mộng, những mối tình với người tri kỷ xa xôi, song cũng có những bài mang tính ẩn dụ, ngầm phê phán hiện thực.

- Thơ Tản Đà thường làm theo thể cổ phong, cũng có khi làm bằng Đường luật, đường luật phá thể, lục bát, song thất lục bát. Ông còn có tài sáng tác thơ dựa trên từ khúc, một hình thức âm nhạc của Trung Hoa, những bài “Tống biệt”, “Cảm thu tiễn thu” nhờ sự phá cách, phối hợp nhiều thể loại thơ, có thể coi là cách tân về hình thức khá táo bạo.

Một kiểu văn vần đặc biệt nữa mà ở đó, Tản Đà được sánh ngang với Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, Cao Bá Quát…, là hát nói hay ca trù (nay được xem như một thể loại thơ). Hát nói của Tản Đà thể hiện một triết lý sống phóng khoáng, một tâm hồn hay mơ mộng, hoài cổ nhưng man mác nỗi sầu nhân thế.

- Ngoài thơ tự sáng tác, thơ dịch của Tản Đà cũng được đánh giá rất cao. Những bài thơ lục bát dịch từ thơ Đường của Tản Đà thường được cho là hay hơn các bản dịch khác, có bài hay hơn cả nguyên tác, vì sự tự nhiên, không bị gò bó mà chuyển tải cả tâm hồn mình vào đó. Ngoài thơ Đường, ông còn dịch những bài thơ dài như Trường Hận ca, dịch ra thể Song thất lục bát, được đánh giá rất cao, Bùi Giáng trong cuốn “Đi vào cõi thơ” tuy không đề cao thơ Tản Đà nhưng gọi bản dịch này là “vô tiền khoáng hậu”.

- Làm báo chí là một phần trong sự nghiệp rất phong phú của Tản Đà. Ông có phong cách làm báo đặc biệt, thường xuất hiện trong những cuộc bút chiến với những giọng điệu khó lẫn. Từng là cộng tác viên cho “Nam Phong “, sau đó do bất đồng với Phạm Quỳnh mà sang làm chủ bút cho “Hữu Thanh”.

- Về sau ông sáng lập ra “An Nam tạp chí” nhưng ba lần phải chịu cảnh đình bản vì lý do tài chính. Ở giai đoạn cuối đời còn cộng tác với “Văn học tạp chí” và cả “Ngày nay”, tờ báo trước đó đã mạt sát ông nặng nề.

- Có thể nói sự nghiệp báo chí của Tản Đà, cũng như cuộc đời của ông, thường gặp gian nan trắc trở. Song những đóng góp của ông trong thời buổi sơ khai của báo chí Việt Nam là một cái giá trị mà người ta phải công nhận.

 

V. Cái ngông của nhà thơ Tản Đà cùng những tìm tòi đổi mới trong nghệ thuật thơ qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội.

     Những năm 20 của thế kỷ XX, Tản Đà là thi bá trên thi đàn Việt Nam. Tài hoa, lãng mạn, thoát ly và ngông là phong cách nghệ thuật của thi sĩ Tản Đà. Trong bài Thú ăn chơi, thi sĩ viết: 
           Trời sinh ra bác Tản Đà 
           Quê hương thời có, cửa nhà thời không 
           Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông, 
           Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly, 
           Túi thơ đeo khắp ba kỳ, 
           Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng… 
   Bài thơ Muốn làm thằng Cuội là bài thơ kiệt tác, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Tản Đà thi sĩ: 
      Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi! 
      Trần thế em nay chán nửa rồi. 
      Cung quế đã ai ngồi đó chửa? 
      Cành đa xin chị nhắc lên chơi 
      Có bầu có bạn can chi tủi, 
      Cùng gió, cùng mây thế mới vui. 
      Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám, 
      Tựa nhau trông xuống thế gian cười. 
  Mở đầu bài thơ là một tiếng kêu buồn lắm chị Hằng ơi. Một tiếng kêu đầy ắp tâm sự như Xuân Diệu từng nhận xét. 
      Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi! 
      Trần thế em nay chán nửa rồi. 
  Nỗi buồn đến mức buồn lắm trong cô đơn chỉ còn biết gọi chị Hằng để giãi bày tâm sự. Ba tiếng chị Hằng ơi Rất biểu cảm, ý vị làm cho giọng thơ thiết tha thân mật. Câu thơ đầy ắp tâm sự buồn và chán. Tản Đà đã từng viết: Đời đáng chán hay không đảng chán, nay thì đã chán nửa rồi. Bài thơ in trong tập Khối tình con xuất bản năm 1916, qua đó ta thấy rõ nguyên cớ sâu xa, buồn và chán vì trần thế, vì cuộc đời xấu xa, vì chế độ thực dân nửa phong kiến ngột ngạt, thối nát tù hãm. Vì công danh dở dang: Tài cao, phận thấp, chí khí uất. Buồn vì non nước đang bị ngoại bang thống trị “Lệ ai giàn giụa với giang san”. Đó là nỗi buồn của một thế hệ trong vòng nô lệ lầm than. Là một thi sĩ đa cảm, đa tình, nỗi buồn đã kết thành mối sầu: 
       Nửa ngòi bút ngỗng bao sinh lụy 
       Một mối tơ tằm mấy đoạn vương. 
                            (Đề khối tình con thứ nhất) 
       Một chữ xin rất chân thành thiết tha, như nài nỉ: 
       Cung quế đã ai ngồi đó chửa ? 
       Cành đa xin chị nhắc lên chơi. 
  Hai câu thực đã làm rõ đề bài Muốn làm thằng Cuội ở nơi cung trồng, cung quế. Câu hỏi tu từ gợi nhiều man mác bâng khuâng. Cành đa đã trở thành cái thang bắc lên chín tầng mây cao xanh để chị nhắc lên chơi cung quế. Đó là giấc mộng thoát ly. Mộng vì chán đời, ngán đời. Mộng có tính phủ định. 
       Nghĩ đời lắm lúc không bằng mộng 
       Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời. 
                                                (Nhớ mộng) 
Có lên được cung quế mới đỡ tủi, mới thỏa thích, thế mới vui. Có chị Hằng làm bầu bạn. Có gió, có mây cùng chơi với. 
  Điệp ngữ (có, cùng) và phép đối được vận dụng sáng tạo, có cả tiểu đối và bình đối. Cách ngắt nhịp 2/2/3 tạo nên giọng thơ nhún nhảy lâng lâng. Thấm đẫm vần thơ là chất phong tình lãng mạn, đọc lên nghe rất thú vị: 
       Có bầu/ có bạn, / can chi tủi, 
       Cùng gió! cùng mây, / thế mới vui. 
   Đúng như nhà phê bình văn học Lê Thanh trong cuốn Tản Đà thi sĩ (1939) đã nhận xét: Thơ của ông (Tản Đà) là chất thơ trong như lọc với những cảnh tượng không rõ rệt những hình ảnh mờ mờ, ông vẽ những bức tranh tuyệt bút với những tư tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ mộng, ông làm nên những câu thơ tuyệt mỹ…. 
    Cái ngông, cái phong tình của thi sĩ đã dâng lên cực điểm. Đêm rằm tháng Tám, là đêm trung thu đẹp nhất. Chẳng còn buồn vì cô đơn nữa, thi sĩ được cùng chị Hằng tựa nhau trông xuống thế gian cười. Cái cử chỉ tựa nhau và nụ cười ấy cũng là một giấc mộng đẹp. Thoáng một chút mỉa mai (cho trần thế), nhưng đầy thú vị vì được thoát li, được thỏa thích nơi cung quế: Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám Tựa nhau trông xuống thế gian, cười" 
    Cái kết thoát ly một cách nói phong tình, tài hoa. Có đọc bài thơ Hầu trời mới thấy được, cảm được cái hay, cái thú vị của bài Muốn làm thằng Cuội. 
Nửa đêm, Tản Đà tỉnh dậy đun nước pha trà, rồi ngâm thơ… Trời nghe giọng ngâm bèn sai hai tiên nữ xuống cõi trần rước thi sĩ bay lên. Thi sĩ đọc thơ cho Trời và bảy tiên nghe. Tất cả đều tấm tắc khen: 
        Văn đã giàu thay, lại lắm lối 
        Trời nghe Trời cũng bật buồn cười 
        Chư tiên ao ước tranh nhau dặn: 
        Anh gánh lên đây bán chợ Trời! 
                                          (Hầu Trời) 
   Bài Muốn làm thằng Cuội là một bài thơ cổ thi đề độc đáo, thú vị. Giọng thơ nhẹ nhàng, thanh thoát, chơi vơi. Trí tưởng tượng phong phú, kỳ diệu. Chất mộng ảo, màu sắc lãng mạn thấm đẫm bài thơ. 
   Tuy có nói đến buồn, nói đến chán, có nói đến thoát ly, có thấm vị phong tình… nhưng toàn bài thơ toát lên một tinh thần phủ định thực tại xã hội thực dân nửa phong kiến xấu xa, khao khát được sống trong sạch hơn, thanh cao hơn, để mãi mãi giữ trọn thiên lương cao đẹp. Giá trị đích thực của bài thơ Muốn làm thằng Cuội là ở chỗ ấy...

 

 

 

 

 

PHẦN II

                    THƠ CA CÁCH MẠNG GIAI ĐOẠN 1930-1945

         TỐ HỮU LÁ CỜ ĐẦU CỦA THƠ CA CÁCH MẠNG VIỆT NAM.

 

I. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ NHÀ THƠ TỐ HỮU

-  Tố Hữu (1920 – 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, quê Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo ham thích văn chương. Chính truyền thống gia đình và cảnh sắc thơ mộng của xứ Huế cùng những nét văn hoá đâm đà bản sắc dân tộc góp phần quan trọng trong việc hình thành hồn thơ Tố Hữu.
- Tố Hữu sớm tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1938 được kết nạp vào Đảng CSĐD, tháng 4/1939, TH bị TDP bắt giam; Mặc dù bị bắt, bị giam cầm trong nhà tù nhưng ý chí cách mạng vẫn không hề lay chuyển; tháng 3/1942 vượt ngục, tìm tới CM.
- Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, Tố Hữu lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế.

- Sau CM tháng Tám: Tố Hữu đảm nhiệm những cương vị trọng yếu trên mặt trận văn hoá văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và nhà nước.

- Tố Hữu là một nhà thơ lớn của VHVN hiện đại. Một nhà thơ được đánh giá là người mở đường, là cánh chim đầu đàn của thơ ca cách mạng.
à Có thể nói ở TH, con người chính trị với con người nhà thơ thống nhất là một, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp CM và trở thành một bộ phận của sự nghiệp CM 

 II. CON ĐƯỜNG THƠ TỐ HỮU

-  Tố Hữu đến với thơ và CM cùng một lúc. Là người cùng thế hệ với nhiều nhà thơ thuộc phong trào thơ mới đương thời, TH đã tiếp nhận một cách tự nhiên những thành tựu nghệ thuật của thơ mới để làm giàu cho thơ ca CM. Nhưng con đường thơ TH khác hẳn với con đường thơ của các nhà thơ thơ mới, vì thơ TH gắn liền với lí tưởng CS và cuộc đấu tranh CM. 

-  Con đường thơ của ông luôn song hành với các giai đoạn cách mạng, phản ánh những chặng đường cách mạng đồng thời thể hiện sự vận động của tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ.

1. Chặng đường “Từ ấy”

Tập thơ “Từ ấy” (1937 – 1946)  được chia làm ba phần : Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng. Trong đó Xiềng xích là phần thành công nhất, thể hiện sự trưởng thành của người thanh niên cộng sản và bước phát triển của hồn thơ Tố Hữu.
* “Máu lửa” là những vần thơ ngợi ca lí tưởng, khẳng định niềm tin và tương lai của cách mạng (“Từ ấy”, “Tiếng hát sông Hương”). Tố cáo những cảnh bất công trong xã hội, (“Hai đứa bé”, “Vú em”…), kêu gọi đứng dậy đấu tranh (“Đi đi em”, “Hồn chiến sĩ”....) 
* “Xiềng xích” là những sáng tác ở trong tù : là tiếng nói của người chiến sĩ nguyện trung thành với lí tưởng, bất chấp “cái chết đã kề bên” (“Con cá chột nưa”). Sự gắn bó thuỷ chung với đất nước, đồng bào, đồng chí (“Nhớ đồng”, “Nhớ người”…) 
* “Giải phóng”…Nói lên niềm vui của người tù cách mạng được trở về hoạt động. Ca ngợi thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945

à Tập thơ là tiếng hát yêu thương, tiếng hát căm hờn, tiếng hát kiên cường bất khuất, tiếng hát lạc quan c/m của người thanh niên cộng sản mới giác ngộ chân lí c/m. Từ ấy là chất men say lí tưởng, chất lãng mạn trong trẻo, tâm hồn nhạy cảm, sôi nổi của cái tôi trữ tình Tập thơ thể hiện chất men say lí tưởng, chất lãng mạn trong trẻo, tâm hồn nhạy cảm, sôi nổi, trẻ trung của một cái tôi trữ tình mới.

2. Chặng đường “Việt Bắc”

Tập thơ “Việt Bắc” (1947 – 1954) - Là chặng đường thơ trong kháng chiến chống Pháp. 
- Nội dung:
+ Là bản hùng ca về cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ mà anh hùng. 
+ Ca ngợi những con người kháng chiến: Đảng và Bác Hồ, anh vệ quốc quân, bà mẹ nông dân, chị phụ nữ, em liên lạc… 
+ Nhiều tình cảm sâu đậm được thể hiện: tình quân dân, miền xuôi và miền ngược, tình yêu đất nước, tình cảm quốc tế vô sản,…. 
- Tập thơ Việt Bắc là một trong những thành tựu xuất sắc của VH kháng chiến chống Pháp. 
- Tác phẩm tiêu biểu: Việt Bắc, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Phá đường,….

3. Chặng đường “Gió lộng”

- Ra đời khi bước vào giai đoạn XDCNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. 
- Nội dung:
+ Niềm tin vào cuộc sống mới XHCN
+ Tình cảm thiết tha, sâu nặng với miền Nam và quốc tế vô sản.
- Niềm vui ấy đem đến cho tập thơ cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi đậm nét. 
- Tác phẩm tiêu biểu : Mẹ Tơm, Bài ca xuân 61, Ba mươi năm đời ta có Đảng,…

4. Chặng đường “Ra trận” và chặng đường “Máu và Hoa”

Tập thơ “Ra trận” (1962 – 1971) và tập thơ “Máu và Hoa” (1972 – 1977) là lời động viên, cổ vũ, ca ngợi cuộc chiến đấu, mang đậm phong cách chính luận, thời sự, chất sử thi, có lúc mang âm hưởng anh hùng ca.

- Là chặng đường thơ Tố Hữu trong những năm kháng chiến chống Mỹ. 
- Nội dung:
+ Ra trận: bản hùng ca về miền Nam, những hình ảnh tiêu biểu cho dũng khí kiên cường của dân tộc (anh giải phóng quân, ngươờithợ điện, em thơ hoá anh hùng, anh công nhân, cô dân quân…) 
+ Máu và hoa: 
o Ghi lại chặng đường cách mạng đầy gian khổ
o Niềm tin sâu sắc vào sức mạnh của quê hương, con người Việt Nam.
- Cổ vũ, ca ngợi chiến đấu, mang đậm tính thời sự.
- Tác phẩm tiêu biểu: Bài ca Xuân 68, Kính gởi cụ Nguyễn Du, Theo chân Bác, Nước non ngàn dặm,…

5. Chặng đường “Một tiếng đờn” và “Ta với ta”

Tập thơ “Một tiếng đờn” (1992) và tập thơ “Ta với ta” (1999) là những vần thơ chiêm nghiệm về lẽ sống, về cuộc đời bên cạnh khuynh hướng trữ tình chính trị, thể hiện sự kiên định vào lí tưởng cách mạng của nhà thơ.

 

III. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT TỐ HỮU
  1. Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng cộng sản, thơ TH tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị. Đây là đặc điểm bao quát nhất của PC thơ TH, nó chi phối các đặc điểm khác của thơ ông. 
   - Thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu là thành tựu xuất sắc của thơ hiện đại VN. Đó là sự kế thừa dòng thơ cách mạng ở đầu TK XX của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và các nhà thơ khác. Nhà thơ đã đổi mới trên nhữnh thành tựu của thơ ca đương thời, đem đến cho văn học cách mạng một tiếng thơ sôi nổi, trẻ trung, mới mẻ và tràn đầy cảm hứng lãng mạn
Lí giải: 
- Con đường thơ Tố Hữu bắt đầu với sự giác ngộ CM, quá trình sáng tác gắn bó mật thiết với quá trình hoạt động CM của nhà thơ với các giai đoạn CM của Đảng và dân tộc. Lí tưởng CM, quan điểm chính trị đã chi phối cách nhìn nhận và cảm xúc về mọi phương diện, mọi hiện tượng đời sống, kể cả đời sống riêng tư. Mọi vấn đề chính trị, mọi sự kiện của đời sống cách mạng đều trở thành đề tài, nguồn cảm hứng nghệ thuật của Tố Hữu. Cho nên Chế Lan Viên nhận xét: “Với Tố Hữu, tả tình hay tả cảnh, kể chuyện mình hay kể chuyện người, viết về các vấn đề lớn hay các sự việc nhỏ là để nói cho được cái lí tưởng cộng sản ấy thôi”. Thơ ông là lời tâm huyết say mê khi gặp lí tưởng cộng sản.
                   “ Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
                      Mặt trời chân lí chói qua tim”  

                                                            (Từ ấy)
- Tố Hữu là một nhà thơ chiến sĩ, ông làm thơ cũng là một hành động, hoạt động CM nhằm mục đích tuyên truyền đấu tranh cho sự thắng lợi của lí tưởng CM cho nên trong thơ ông có sự thống nhất giữa tuyên truyền CM với cảm hứng trữ tình. Thơ Tố Hữu chủ yếu khai thác cảm hứng từ đời sống chính trị của đất nước, từ hoạt động cách mạng và tình cảm chính trị của chính bản thân ông. Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu là cái tôi chiến sĩ.
- Tố Hữu là nhà thơ của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người và cuộc sống CM, nói như Xuân Diệu là “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình” :
+ Lẽ sống lớn: 
\ TH từng nói: “Đối với người cộng sản, cái lí tưởng chung là cái lẽ sống riêng lớn nhất”. Lẽ sống ấy là dấn thân cho lí tưởng CM giải phóng dân tộc:
              Tôi buộc lòng tôi với mọi người
              Tôi đã là con của vạn nhà  

                                                   (Từ ấy)
              “Sống cùng Đảng,chết không rời Đảng
               Tấm lòng son chói sáng nghìn thu,
               Mặt trời có lúc mây mù
              Trái tim kia vẫn đỏ bầu máu tươi”   

                                                    (30 năm đời ta có Đảng)
\ Đó là lẽ sống vươn tới sự tiến bộ chung cho nhân loại:
              Vì độc lập, Tự do, núi sông hùng vĩ 
              Vì thiêng liêng giá trị con người 
              Vì muôn đời hoa lá xanh tươi 
              Ta quyết thắng. Dành mùa xuân đẹp nhất   

                                                           (Bài ca xuân 68) 
+ Tình cảm lớn:

        Tình cảm trong thơ Tố Hữu là tình yêu lí tưởng, kính yêu lãnh tụ, tình đồng bào, đồng chí, tình quân dân, tình quốc tế vô sản – những nguồn tình cảm lớn.

Ngoài yêu đảng ,Tố Hữu còn yêu Bác Hồ, yêu quê hương đất nước, yêu đồng bào, đồng chí. Nói như nhà nghiên cứu Trần Đình Sử: “Trong Từ ấy ta bắt gặp con người say lí tưởng, say đấu tranh, say quần chúng lao khổ. Từ Việt Bắc, ta gặp con người say nhân dân, chất phác hiền lành. Ở Gió lộng thì đó là con người say cái mới xã hội chủ nghĩa. Ở Ra trận, con người ấy chuyển sang say sứ mệnh, say chiến công, say dân tộc. Và ở Máu và hoa nổi lên con người say tấm lòng bè bạn, tấm lòng nhân dân”.
+ Niềm vui lớn trong thơ TH là niềm vui chiến thắng sôi nổi, hân hoan:
         Kháng chiến ba ngàn ngày 
         Không đêm nào vui bằng đêm nay
         Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực
        Trên đất nước như huân chương trên ngực
         Dân tộc ta, dân tộc anh hùng!   

                               (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Việt Bắc)
         Tôi lại nhìn những đôi mắt trẻ thơ
         Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ ...

                             (Vui thế hôm nay – Máu và hoa)
2
. Thơ TH gắn liền với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:
* Khuynh hướng sử thi:
- Thơ Tố Hữu tập trung thể hiện những vấn đề lớn, có ý nghĩa lịch sử của toàn dân. 
+ Cảm hứng trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lịch sử, dân tộc. Cái tôi trữ tình trong thơ TH là cái tôi chiến sĩ, cái tôi công dân, cái tôi nhân danh cộng đồng, nhân danh Đảng, nhân danh dân tộc.
+ Nhân vật trong thơ Tố Hữu là con người thể hiện tập trung phẩm chất của giai cấp, của dân tộc mang tầm vóc lịch sử và thời đại, nhiều khi được sử dụng bằng bút pháp thần thoại hóa. Trong Việt Bắc, nhân vật trung tâm của thơ Tố Hữu là người chiến sĩ, là quần chúng cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, đó là hình ảnh anh bộ đội lên Tây Bắc:
                   “ Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
                      Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo
                      Núi không đè nổi vai vươn tới
                      Lá nguỵ trang reo với gió đèo”  

                                                         (Lên Tây Bắc)

* Cảm hứng lãng mạn: 
- Cảm hứng lãng mạn thể hiện trong thơ Tố Hữu rất giàu chất thơ lãng mạn Thơ TH luôn hướng tới tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và niềm say mê vào con đường cách mạng, gợi tình nghĩa cách mạng, con người cách mạng. Do ảnh hưởng của cảm hứng ấy, thơ TH thường cất lên thành những tiếng hát, khúc hát tâm tình, bài ca chiến đấu, tiếng reo chiến thắng. 
              “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
                Mà lòng phơi phới dậy tương lai”  

                                                              (Tố Hữu)
3. Thơ Tố Hữu có giọng điệu riêng, giọng tâm tình, ngọt ngào, tha thiết; giọng của tình thương mến rất tự nhiên, đằm thắm, chân thành.
- Biểu hiện: ở cách xưng hô trò chuyện, tâm tình với lối gọi Ơi rất thân thương. Nhà thơ thường có cái lối gọi ơi này trong rất nhiều vần thơ: Đi bạn ơi đi sống đủ đầy; Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi; Bác ơi tim Bác mênh mông thế. Tiếng gọi ơi này đã tạo ra tình thương mến tâm tình trong thơ ông, nói như XD là: “tạo thành thứ nhạc tâm tình”.
- Tại sao thơ Tố Hữu có giọng điệu ngọt ngào ấy? Là do thơ Tố Hữu thừa hưởng điệu tâm hồn của con người xứ Huế, với những câu ca, giọng hò nam ai nam bình tha thiết ngọt ngào. 
Nhờ giọng điệu riêng này mà Tố Hữu tăng thêm nhiều sức truyền cảm, dễ dàng đem những tư tưởng tình cảm cách mạng đến với công chúng.

4.Thơ TH đậm đà tính dân tộc:
Trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình ,như con ong cần mẫn,Tố Hữu tiếp thu tinh hoa nghệ thuật dân tộc và kèm theo sự sáng tạo của riêng mình tạo nên sự kết tinh ở thơ ông .

* Về nội dung: 
- Thơ TH thể hiện những nét đặc sắc về đất nước và con người VN. Ta gặp trong thơ ông những hình ảnh: bóng tre trùm mát rượi, những ô mạ xanh mơn mởn và những con người những lưng cong xuống luống cầy; những hình ảnh bình dị ,ấm áp tình đời như chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nữa,hình ảnh bầm ra ruộn,… Đó là hình ảnh của đất nước và con người VN thân thương. Nhiều khi Tố Hữu tạo ra đưộc nhiều câu thơ đẹp lỗng lẫy như những án thơ cổ điển (Việt bắc,Kính gửi cụ Nguyễn Du).Chính những án thơ cổ điển này góp phần tạo ra sự sang trọng cho câu thơ
- Hiện thực đời sống CM, những tình cảm chính trị, đạo lí CM qua sự cảm nhận và thể hiện của
Tố Hữu đã hòa nhập, gắn bó với truyền thống tình cảm và đạo lí dân tộc làm phong phú thêm cho truyền thống ấy.
* Về nghệ thuật:
- Thơ
Tố Hữu sử dụng nhuần nhuyễn và làm phong phú thêm các thể thơ dân tộc như thể thơ năm chữ, thơ thất ngôn, thơ song thất lục bát nhưng tiêu biểu nhất là thơ lục bát (Việt Bắc, Bầm ơi, Kính gửi cụ Nguyễn Du…).
- Thơ Tố Hữu sử dụng nhuần nhuyễn lối nói dân gian, từ ngữ, hình ảnh, lối so sánh, phép chuyển nghĩa và hình ảnh thơ thường thiên về giá trị biểu cảm.
             “ Mình về mình có nhớ ta.
        Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”
                                               (Việt Bắc)

- Thơ Tố Hữu phát huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt. Nhà thơ sử dụng tài tình các từ láy, các thanh điệu, các vần thơ. Chiều sâu của tính dân tộc trong thơ TH chính là nhạc điệu phong phú về vần, phối âm trầm bổng, nhịp nhàng, dễ ngâm, dễ thuộc. Thơ TH nghiêng về tính truyền thống hơn là đổi mới theo hướng hiện đại.
                “Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
             Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày…”
                                                      (Kính gửi cụ Nguyễn Du)
IV. KẾT LUẬN:
     Tố Hữu là nhà thơ xuất sắc nhất của nền VHCM .Thơ Tố Hữu đã hiện diện trong đời sống cách mạng và đời sống dân tộc ta như một hiện tượng tinh thần có sức thu hút và cổ vũ cho hàng triệu người dân VN. Đó là sự thành công và vinh dự không phải nhà thơ nào cũng có được .Sư thu hút lơn lao của những bài thơ chính là nhờ phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu rất đặc biệt ,ở những tình cảm chân thành và năng lực truyền cảm mạnh mẽ cùng với nghệ thuật đậm đà mang tính dân tộc. Con đường thơ Tố Hữu là tim được sự kết hợp giữa cách mạng và dân tộc trong thơ ca.

V. BỨC TRANH MÙA HÈ VÀ TÂM TRẠNG CỦA NGƯỜI CỘNG SẢN TRẺ TUỔI TRONG BÀI THƠ “ KHI CON TU HÚ” CỦA TỐ HỮU

• Hoàn cảnh ra đời: Bài thơ Khi con tu hú được sáng tác trong nhà lao Thừa Phủ khi tác giả mới bị bắt giam tại đây. Bài thơ được làm theo thể thơ lục bát giản dị thiết tha thể hiện sâu sắc lòng yêu cuộc sống là niềm khát khao tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng trong cảnh tù đày.  

1. Nên hiểu nhan để bài thơ như thế nào? Hãy viết một câu văn có bốn chữ đầu là “Khi con tu hú” để tóm tắt nội dung bài thơ. Vì sao tiếng tu hú kêu lại tác động mạnh mẽ đến tâm hồn nhà thơ như vậy?

a) Nhan đề bài thơ:

+ Nhan đề bài thơ rất lạ, bởi lẽ nhan đề của một tác phẩm thường thế hiện một tư tưởng. Nhan đề của bài thơ lại là một thời điểm, một thời gian do một cụm trạng ngữ đảm nhiệm khi con tu hú nó được tách ra từ bốn tiếng cua dòng thơ đầu.

+ Nhan đề không chi gợi lên thời gian mà còn gợi lên tâm trạng của con người nỗi lòng của con người khi nghe tiếng chim kêu.

b) Tóm tắt bài thơ bằng câu văn có cụm từ mở dầu là khi con tu hú: Khi con tu hú kêu là mùa hè xôn xao thức dậy: lúa chín trái cây ngọt, tiếng ve ngân, bắp vàng, diều bay lưng trời và nó càng thôi thúc niềm khát khao tự do của người chiến sĩ.

c) Lí do tác động:

 + Tiếng chim tu hú kêu là biểu tượng cho mùa hè đã đến, thời gian đang trôi dần, đối lập với thời gian trong tù lãng phí.

 + Tiếng chim còn là biểu tượng cho cuộc sống tốt đẹp tự do ở bên ngoài trong lúc tác giả lại đang bị giam cầm trong sự tù túng bức bối ngột ngạt, mất tự do.

2. Nhận xét về cảnh mùa hè được miêu tả trong 6 câu thơ đầu. Những chi tiết nào khiến em có nhận xét đó?

+ Bức tranh mùa hè: Bức tranh mùa hè được miêu tả trong sáu câu thơ đầu là một bức tranh tươi đẹp rực rỡ, tràn ngập màu sắc và rộn ràng âm thanh.

- Âm thanh:    

• Tiếng chim tu hú gọi bầy, đây không phải là một tiếng chim đơn lẻ mà cả đàn chim cất tiếng gọi nhau rộn rã, tưng bừng cả vòm cây.    

• Tiếng ve râm ran ngân vang cả khu vườn.    

• Tiếng diều sáo vang lừng cả không trung.

à Những âm thanh rộn ràng, náo nức bản tình ca mùa hè thật say đắm.

 - Màu sắc:     • Cả không gian được bao phu bởi màu vàng trùng điệp: màu vàng của lúa, màu vàng của trái chín, màu vàng của bắp.    

 • Màu hồng lung linh của nắng.    

• Màu xanh cua bầu trời.

à Những màu sắc rực rờ tươi tắn chứa đầy sức sống mãnh liệt.

 - Hình ảnh:      • Cánh đồng lúa chín vàng rực, bắp vàng đầy sân.    

 • Trái cây chín mọng ngoài vườn.      

• Đôi con diều sáo nhào lộn không trung.

à Những hình ảnh thể hiện sự ấm no trù phú của làng quê khi mùa hè đến, ngào ngạt hương vị, khoáng đãng tự do.

+ Sự cảm nhận: Bức tranh mùa hè này được tác giả tái hiện lại bằng trí tưởng tượng phong phú mãnh liệt, bằng nỗi nhớ tha thiết, bằng sự khát khao tự do; khát khao cuộc sống bên ngoài của một tâm hồn người chiến sĩ đang ở trong hoàn cảnh tù đày của bốn bức tường giam chật chội.

3. Phân tích tâm trạng người tù - chiến sĩ được thể hiện ở bốn câu thơ cuối.

Mở đầu và kết thúc bài thơ đều có tiêng tu hú kêu, nhưng tâm trạng của người tù khi nghe tiếng tu hú thể hiện ở đoạn thơ đầu và cuối rất khác nhau, vì sao?

+ Tâm trạng người chiến sĩ:

       Ta nghe hè dậy bên lòng

       Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!

       Ngột làm sao, chết uất thôi

       Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu.      

 - Tâm trạng uất ức, bực dọc, tức tối vì cuộc sống ngột ngạt của nhà tù nhịp thơ thay đổi thay vì 4/4 và 2/2/2 chuyến thành 6/2 (Mà chân muốn đạp tan phòng/ hè ôi) và 3/3 (Ngột làm sao/ chết uất thôi). Người chiên sĩ như muốn phá tung tất cả, muốn đạp tan phòng, muốn “phá củi sổ lồng” mà ra, uất ức đến đau khố đã bật lên thành tiếng kêu thương hè ôi! chết uất thôi.      

- Đằng sau tâm trạng uất ức ấy là niềm khát khao tự do mãnh liệt đang thiêu đốt trong lòng nhà thơ, muốn thoát khỏi cảnh tù đày đế trở về hoạt động cách mạng.

 + Sự khác nhau của tiếng chim tu hú: mở đầu bài thơ là tiếng chim tu hú, khép lại bài thơ cũng tiếng chim ấy nhưng tâm trạng người tù khi nghe tiếng tu hú mỗi lần mỗi khác nhau vì:  

   - Tiếng tu hú mở đầu bài thơ là gọi hè xôn xao, náo nức, rộn ràng là biểu hiện của sự cảm nhận về thiên nhiên tươi đẹp, tiếng gọi bầy họp bạn.      

   - Tiếng tu hú kết thúc bài thơ thể hiện sự hối thúc bức bối, niềm khát khao tự do cháy bỏng. Từ tiếng gọi bầy họp bạn trở thành tiếng kêu giục giã trong lòng người.

4. Theo em, cái hay của bài thơ được thể hiện nối bật ở những điểm nào? Cái hay của bài thơ được thể hiện nổi bật ở những điểm sau đây:      

+ Sự tương phản giữa hai bức tranh: bức tranh thiên nhiên bên ngoài tươi đẹp, rực rỡ vừa rộn ràng âm thanh vừa rực rỡ màu sắc lại vừa khoáng đãng tự do. Bức tranh bên trong nhà tù thì bức bối, ngột ngạt, tù túng. Thế giới tù tội và thế giới tự do được đặt cạnh nhau tạo sự tương phản gay gắt dữ dội.      

+ Mở đầu và kết thúc bài thơ đều có tiếng chim, và mỗi lần mang một ý nghĩa khác nhau.      

+ Sử dụng thể thơ lục bát quen thuộc đậm đà tính dân tộc.      

+ Ngôn ngữ thơ tự nhiên diễn đạt một cách chân thực tâm trạng cùa tác giả.



 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN III

THƠ VĂN HỒ CHÍ MINH

I. Những nét chính về sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh

  1. Quan điểm sáng tác 
     - Hồ Chí Minh xem văn nghệ là hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng. Nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa - tư tưởng.
    - Hồ Chí Minh chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học. Người căn dặn nhà văn phải  miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn hiện thực đời sống, và phải giữ tình cảm chân thật;  nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc và phải có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
    - Tuy nhiên, người nghệ sĩ phải có sự sáng tạo. Người nhắc nhở chớ có gò bó họ vào khuôn, làm mất vẻ sáng tạo. …
    - Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm. Người luôn tự đặt câu hỏi: Viết cho ai?, Viết để làm gì?, sau đó mới quyết định: Viết cái gì? và Viết như thế nào?. Do vậy, tính hiện thực và khả năng thích ứng văn chương của Người với cuộc sống rất là sao.
   - Sự nghiệp văn học của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh có tầm vóc lớn lao, phong phú, đa dạng về thể loại và đặc sắc về phong cách sáng tạo. Người đã sáng tác được nhiều tác phẩm văn chương có giá trị. Trong đó có những áng văn chính luận gìau sức sống thực tế, sắc sảo về chình kiến và ý tưởng những truyện ngắn độc đáo và hiện đại, hàng trăm bài thơ giàu tình người, tình đời, chứa chan thi vị được viết ra bằng những tài năng và tâm huyết. Do điều kiện hoạt động cách mạng nhiều năm ở nước ngoài nên các tác phẩm của Người được viết bằng tiếng Pháp, tiếng Hán, tiếng Việt.…
  2 . Di sản văn học 

   a) Văn chính luận
   
- Những tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh được viết ra chủ yếu với mục đích đấu tranh chính trị nhằm tiến công trược diệt kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ CM qua những chặng đường lịch sử.
    - Từ những năm 20 của thể kỉ, các bài văn chính luận với bút danh Nguyễn Ái Quốc đăng trên các tờ báo: Người cùng khổ , Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền đã tác động và ảnh hưởng lớn đến công chung Pháp và nhân dân nhiều nước thuộc địa. Nổi bật là Bản án chế độ thực dân Pháp, áng văn chính lụân sắc sảo nói lên một cách thống thiết nỗi đau khổ của người dân bản xứ và tố cáo trực diện chế độ thực dân Pháp, thức tỉnh, kêu gọi những người nô lệ đứng lên chống áp bức, bóc lột…
   - Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện chính trị có giá trị lịch sử lớn lao, phản ánh khát vọng độc lập, tự do và cuộc đấu trang kiên cường, bền bỉ của nhân dân đã giành được thắng lợi, tuyên bố hùng hồn quyền độc lập của dân tộc Việt Nam trước nhân dân trong nước và thế giới. Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm chính luận có giá trị pháp lí, giá trị lịch sử, nhân bản và nghệ thuật cao.
   - Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quí hơn độc lập tự do (1966) là những áng văn chính luận hào hùng, tha thiết làm rung động hàng triệu trái tim yêu nước. Những tác phẩm ấy nói lên những vấn đề thời sự cấp bách của dân tộc, thể hiện sâu sắc tiếng gọi của non sông đất nước trong những giờ phút thử thách đặc biệt. Trong những năm tháng cuối đời, Người viết bản Di chúc thiêng liêng mà chan chứa tình cảm. Bản di chúc là lời căn dặn thiết tha, chân tình với đồng bào, đồng chí, vừa mang tính chiến lược trong hướng phát triển, vừa thấm đượm tình yêu thương con người.
  b) Truyện và kí
  
- Khoảng từ năm 1922 đến 1925, Nguyễn Ái Quốc đã viết một số truyện ngắn và kí bằng tiếng Pháp rất đặc sắc sắng tạo và hiện đại. Tiêu biểu là các truyện ngắn: Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu (1925), Con rùa (1925) Truyện ngắn của Hồ Chí Minh cô đọng, cốt truyện sáng tạo, kết cấu độc đáo. Mối truyện đều có tư tưởng riêng hấp dẫn, sáng tỏ ý tưởng thâm thuý, kín đáo, chất trí tuệ toả sáng trong hình tượng và phong cách.
  c) Thơ ca
    - Thơ ca là lĩnh vực nổi bật nhất trong giai đoạn sáng tác văn chương của Hồ Chí Minh. Với trên dưới 250 bài thơ có giá trị được tuyển chọn và in trong các tập Nhật ký trong tù (133 bài), Thơ Hồ Chí Minh (86 bài), Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (36 bài). Hồ Chí Minh đã có những đóng góp quan trọng trong nền thơ hiện đại.
   - Nhật kí trong tù là tập thơ tiêu biểu nhất trong di sản thơ ca của Hồ Chí Minh. Tập thơ Nhật kí trong tù trước hết là cuốn nhật kí bằng thơ phản ánh tâm hồn và nhân cách cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong hoàn cảnh nặng nề và khắc nghiệt nhất. Tập thơ chan chứa tình cảm nhân đạo, luôn hướng về những người lao động. Nhiều bài thơ biéu hiện lòng yêu nước thiết tha của người chiến sĩ cộng sản, chứa đựng những bài học về nhân sinh, đạo lí, thể hiện ý chí, nghi lực vượt khó khăn gian khổ để vươn tới tự do. Đồng thời, Nhật lí trong tù là một tác phẩm giàu giá trị nghệ thuật, Nhiều tứ thơ được thể hiện rất sáng tạo, nhiều hình ảnh gợi cảm, thể thơ tứ tuyệt của nhiều bài thơ được sử dụng thành thục, tạo nên vẻ đẹp hàm xúc, linh hoạt, tài hoa, vừa cổ điển vừa hiện đại trong tập thơ.
   - Ngoài ra, Hồ Chi Minh còn viết nhiều bài thơ trữ tình độc đáo, và nhữung bài thơ mộc mạc, giản di đẻ tuyên truyền đường lối cách mạng (Pác Bó hùng vĩ, Tức cảnh Pác Bó). Đặc biệt, trong thời kì chống thực dân Pháp, Người đã bộc lộ những lo lắng về vận mệnh non sông và tình cảm tha thiết gắn bó với cảnh sắc thiên nhiên đất nước (Cảnh khuya, Đi thuyền trên sông Đáy, Cảnh rừng Việt Bắc…) Người ca ngợi sức mạnh của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến và niềm vui thắng lợi (Rằm tháng Giêng, Tin thắng trận…).
   - Những tác phẩm của Hồ Chí Minh có phong cách đa dạng và thống nhất, kết hợp sâu sắc mà nhuần nhị mối quan hệ giữa chính trị và văn chương, giữa tư tưởng và nghệ thụât, giữa truyền thống và hịên đại. Dù sáng tác bằng thể loại nào thì tác phẩm của Người đều có phong cách riêng, độc đáo, hấp dận, có giá trị bền vững.
      + Trong Truyện và kí, ngòi bút Hồ Chí Minh rất chủ động và sáng tạo, khi tì lối kể chân thực tạo không khí gần gũi, có khi là giọng điệu châm biếm sắc sảom thâm thuý, tinh tế. Chất trí tuệ và tính hịên đại là những nét đặc sắc trong truyện ngắn của Nguyễn ái Quốc.
     + Văn chính luận của Hồ Chi Minh bộc lộ tư duy sắc sảo, giàu trí thức văn hoá, gắn lí luận với thực tiễn, giàu tính luận chiến, vận dụng có hiệu quả nhiều phương thức biểu hiện.
     + Thơ ca Hồ Chí Minh cũng có phong cách đa dạng: Nhiều bài cổ thi hàm xúc, uyên thâm, đạt chuẩn mực cao về nghệ thuật, những bài thơ hiện đại được Người vận dụng nhiều thể loại phục vụ có hiệu quả cho nhiệm vụ cách mạng.

 

 

 

II. Thuế máu - Một áng văn chính luận mẫu mực và độc đáo.

  - Chương Thuế máu (Trích từ Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc) có sự kết hợp tài tình của nhiều hình thức thể loại: phóng sự, văn chương thẩm mĩ, nhưng trên hết và trước hết, nó là một tác phẩm văn chính luận, mang đây đủ đặc trưng của một tác phẩm văn chính luận.

  - Viết Thuế máu, Nguyễn Ái Quốc muốn vạch trần chân tướng dã man, tàn ác, xảo trá, đê hèn của thực dân Pháp, đồng thời để thức tỉnh nhanh chóng nhân dân các nước thuộc địa cổ vũ họ đứng lên đấu tranh.

  - Đứng hẳn về phía nhân dân bị áp bức trên khắp thế giới và bênh vực quyền sống của họ. Nguyễn Ái Quốc đã lên án mạnh mẽ các thủ đoạn xấu xa của thực dân Pháp và bè lũ tay sai nhằm xô đẩy hàng chục vạn dân vô tội vào lò lửa chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), biến họ thành vật hi sinh cho những tham vọng ngông cuồng của bọn đế quốc.

  - Tác phẩm thuyết phục người đọc một cách mạnh mẽ bởi hệ thống luận điểm đúng đắn độc đáo, những lí lẽ, dân chứng xác đáng và phương pháp lập luận đa dạng.

  - Có thể coi văn bản Thuế máu có một luận điểm bao trùm qua tên chương và ba luận điểm cụ thể ứng với tên gọi ba phần của nó.

  - Tiêu đề Thuế máu thể hiện như một luận điểm chìm, mang ý nghĩa tiềm ẩn. Tư tưởng, quan điểm, thái độ của tác giả chứa đựng trong ý nghĩa của từ ngữ. Thay vì nêu trực tiếp: chính sách bóc lột xương máu dã man của thực dân Pháp, tác giả đã để cho hai chữ Thuế máu tự nó nói lên ý nghĩa. Bên cạnh bao thứ thuế nhằm bóc lột của cải, sức lực, có một thứ thuế độc ác nhất, man rợ nhất, kì lạ nhất là thứ thuế đánh vào mạng sống, xương máu người dân các nước thuộc địa. Do vậy, bản thân tên gọi của chương văn cũng đã toát lên tinh thần tố cáo, lên án, buộc tội chế độ thực dân Pháp.

  - Kết cấu ba phần của chương là sự triển khai luận điểm bao trùm nói trên. Ba luận điểm cụ thể cũng được nêu ra qua tên gọi của ba phần, cũng với tính chất hàm ẩn tương tự. Chiến tranh và người bản xứ: Người dân các nước thuộc địa đã bị xô đẩy vào cuộc chiến tranh như thế nào? Chế độ lính tìnhnguyện: Phải chăng người dân thuộc địa nguyện đi lính cho Pháp? Kết quả của sự hi sinh: Người dân thuộc địa được gì sau cuộc chiến tranh?

- Tính tiềm ẩn của hệ thống tên gọi luận điểm tự nó đã mang màu sắc khách quan, châm biếm, thống nhất với phong cách trình bày chung trong nội dung triển khai của từng phần. Đồng thời, cách nêu hệ thống luận điểm kiểu này (cùng với cách diễn đạt cụ thể, sinh động trong toàn bài) tạo cho bài văn ấn tượng về sự hòa trộn của ba phong cách chính luận, trào phúng và phóng sự. Mặt khác, ta còn thấy ba phần của chương Thuế máu được bố cục theo trình tự thời gian: trước, trong và sau khi xảy ra cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Với cách sắp xếp này, tác giả đã phơi bày toàn diện, triệt để bộ mặt giả nhân giả nghĩa, trơ trẽn, bản chất tàn bạo của chính quyền thực dân xung quanh việc bóc lột bằng "thuế máu", đồng thời sự thật thảm thương về số phận người dân ở các nước thuộc địa cũng được thể hiện sinh động, cụ thể.

Bên cạnh cách nêu luận điểm độc đáo, tác giả Thuế máu còn sử dụng kết hợp các phương pháp lập luận nhằm xác lập luận điểm cho từng phần và mối quan hệ giữa các phần. Đây chính là một trong những đặc điểm của phong cách chính luận Nguyễn Ái Quốc. Toàn chương có hai phương pháp lập luận cơ bản.

    + Lập luận theo quan niệm thời gian: trước chiến tranh - trong chiến tranh - sau chiến tranh.

    + Lập luận theo quan hệ nhân quả (căn cứ vào số phận của người dân phải nộp thuế máu): chiến tranh - bị đi lính - kết quả nhận được.

Ở mỗi phần của chương cũng thể hiện sự kết hợp nhiều phương pháp lập luận.

 - Phần I: Chiến tranh và người bản xứ, gồm:

    + Lập luận theo quan hệ thời gian: trước chiến tranh - khi chiến tranh bùng nổ.

    + Lập luận theo quan hệ liên tưởng so sánh: thái độ của các quan cai trị thực dân đối với "người bản xứ" ởhai thời điểm nêu trên.

   + Lập luận theo quan hệ nhân quả: cái "vinh dự đột ngột" mà thực dân Pháp dành cho người bản xứ và cái giá đắt mà họ phải trả cho cái "vinh dự đột ngột" ấy.

  - Sự kết hợp các phương pháp lập luận này có tác dụng làm nổi bật thủ đoạn lừa bịp bỉ ổi của chính quyền thực dân đã bắt đầu biến người dân thuộc địa thành vật hi sinh, đồng thời làm hiện rõ số phận thê thảm của những người vô tội.

 - Phần II: Chế độ lính tự nguyện.

    + Lập luận theo quan hệ liên tưởng tương phản: Thực chất của việc bắt lính (cưỡng bức tróc nã, dọa nạt xoay xở kiếm tiền, đàn áp dã man) hoàn toàn trái ngược với những lời lẽ che đậy mĩ miều của thực dân Pháp để lấp liếm thực chất ấy.

   + Lập luận bằng phản chứng để đập tan luận điệu bịp bợm của thực dân Pháp: "Nếu quả thật... tại sao... phải chăng là (Đoạn cuối của phần II).

Tại đây, một lần nữa, thủ đoạn lừa bịp trơ trẽn và bản chất tàn bạo trắng trợn trong việc bắt lính của các quan cai trị thực dân được lôi ra ánh sáng và tinh thần phản chiến bằng nhiều hình thức của người nô lệ được phơi bày.

  - Phần III: Kết quả của sự hi sinh:

     + Lập luận theo quan hệ liên tưởng so sánh: Chiến tranh kết thúc, người dân thuộc địa lại trởlại là "giống người bần thỉu" như trước chiến tranh.

    + Lập luận bằng phản chứng để chứng minh cho cách đối xử thậm tệ của thực dân Pháp đối với những người đã nộp xong thuế máu (qua đoạn văn sử dụng các câu liên tiếp: "Chẳng phải... đó sao?).

  - Với cách lập luận này, tác giả đã làm nổi rõ bản chất tráo trở của thực dân Pháp trong cách đối xử với những người đi làm bia đỡ đạn cho chúng may mắn còn sống sót, cùng những thân nhân của những người đã bỏ mạng.

  - Thuế máu là chương mở đầu của "bản án kết tội" thực dân Pháp. Muốn kết tội đối phương, cần phải có lí lẽ sắc bén, chứng cứ rõ ràng, không thểchối cãi. Cách nêu lí lẽ và dẫn chứng của Nguyễn Ái Quốc là dùng ngay luận điệu và hành động thực tế của kẻ thù mà vạch mặt chỉ tên chúng trước vành móng ngựa, làm cho chúng lộ rõ nguyên hình. Chính vì thế, ta gặp không ít những câu và từ ngữ vốn được thốt ra từ cửa miệng bọn quan lại thực dân được trích lại dưới dạng này hay dạng khác: Những tên da đen bẩn thỉu/ Những tên An- nam-mít bẩn thỉu/ con yêu/ bạn hiền/ chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do/ Vật liệu biết nói/ các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương.../ Các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt. Bây giờ, chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đư...

  - Để lí lẽ thêm hùng hồn và bằng chứng thêm thuyết phục, tác giả đã sử dụng những cách liên kết thật đa dạng, chặt chẽ, mà phổ biến là dùng các trạng từ tình thái, các cặp quan hệ từ hô ứng theo quan hệ tương phản hoặc tương đồng.

"Trước năm 1914, họ chỉnhững tên da đen bẩn thỉu, những tên "An-nam- mít" bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta. Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui chơi vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa "con yêu", những người bạn hiền của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa. Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cái danh hiệu tối cao là "chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do". Nhưng họ đã phải trả bằng một cái giá khá đắt cho cái vinh dự đột ngột ấy..."

"Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyền nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép lạ, và cả người Nê-gơ-rô lẫn người An-nam-mít mặc nhiên trở lại "giống người bẩn thỉu".

Khi dẫn chứng vạch tội, tác giả liên kết bằng những từ hô ứng theo thời gian: "Từ bao đời nay... nay...", "thoạt tiên... sau đó" hoặc quan hệ trật tự logic: "Thếlà... như thế là", "một mặt... mặt khác..."; Khi cần bác bỏ luận điệu xảo trá che đậy của kẻ thù, Người dùng kiểu câu hỏi phủ định: "Nếu quả thật... tại sao... phải chẳng là...". Thủ pháp trùng điệp trong khi nêu lí lẽ và dẫn chứng cũng là phong cách chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được định hình ngay từ khi viết Thuế máu. Lí lẽ liên tiếp lí lẽ, dẫn chứng liên tiếp dẫn chứng làm cho đối phương ởtrong trạng thái bị áp đảo, không kịp đối phó, đã thể hiệncái tư thế quan tòa đang luận tội của tác giả.

  - Thuế máu đặc sắc trong cách trình bày luận điểm, trong phương pháp lập luận và cách nêu lí lẽ, dẫn chứng. Nhưng không chỉ có vậy. Tác phẩm có sức thuyết phục cao độ và còn do giá trị biểu cảm đặc sắc của nó nữa.

  - Cùng với hệ thống hình ảnh sinh động giàu sức tố cáo (vì mang sức mạnh của sự thật) là ngôn từ mang màu sắc châm biếm và giọng điệu trào phúng, khigiễu cợt mỉa mai, lúc xót xa căm giận, từ đó toát lên lòng căm phẫn bọn thực dân tàn ác, tráotrở, niềm thương cảm cho số phận người dân nô lệ bị lợi dụng và bóc lột "thuế máu". Đây là kết quả của sự thống nhất giữa lí trí, trí tuệ tỉnh táo và tình cảm nhân đạo cao cả trong tâm hồn Nguyễn Ái Quốc.

Thuế máu nằm trong tổng thể Bản án chế độ thực dân Pháp là một tác phẩm chính trị, nhưng chính trị mà không khô khan. Những quan điểm chính trịtư tưởng luôn luôn nổi lên và hòa quyện với những giá trị thuần văn học.

 

III. Tinh thần lạc quan, phong thái ung dung, tự tại của Hồ Chí Minh trong “Tức cảnh Pác Bó”

     Nhắc đến Bác Hồ là nhắc đến người lãnh đạo thiên tài của Cách mạng Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới. Nhưng nhắc đến Bác, còn là nhắc đến một lối sống thanh bạch, khiêm nhường, suốt đời chỉ chăm lo đến sự nghiệp cách mạng của đất nước. Điều đó được thể hiện rất rõ qua bài thơ “Tức cảnh Pác Bó”:

                    “Sáng ra bờ suối tối vào hang

                     Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng

                     Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

                     Cuộc đời cách mạng thật là sang".

        Sau bao nhiêu năm bôn ba tìm đường cứu nước, chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Là một nhân vật lịch sử lỗi lạc của dân tộc, là nhà thơ, nhà danh nhân văn hóa. Cuộc đời thơ ca của Bác luôn song hành với cuộc đời chính trị. Trong những năm gian khổ ở cuộc kháng chiến trống Pháp, làm việc trong hoàn cảnh hết sức thiếu thốn, ở hang Pác Pó, bàn làm việc chông chênh bên suối Lê – Nin. Bác đã viết những bài thơ ngấm vào máu thịt của người dân Việt Nam. Bài thơ Tức cảnh Pác Pó đã diễn tả được phong thái ung dung ,tinh thần lạc quan yêu đời, "thú lâm tuyền" khoáng đạt, tươi sáng của Bác.

      Bài thơ đã đồng hành cùng thời gian, vượt qua hành trình hơn 70 mùa xuân. Giờ đây bài thơ như một chứng tích lịch sử của cách mạng Việt Nam. Qua đó, còn cho chúng ta thấy phong thái ung dung tự tại, tinh thần lạc quan cách mạng của người chiến sỹ cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh về những năm tháng hoạt động bí mật, đầy gian khổ vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

       Trong ba câu đầu của bài thơ, Bác nhắc đến điều kiện ở - ăn - làm việc của mình, ở và ăn là hai nhu cầu tất yếu của con người. Và riêng với Hồ Chí Minh, khi nói đến đời sống sinh hoạt của mình, Người luôn đề cập thêm vấn đề công việc. Ấy bởi Bác là người luôn luôn làm việc, suốt đời làm việc, suốt đời lo cho dân, cho nước. Với Hồ Chí Minh, làm việc như một nhu cầu tất yếu, một bản năng. Điều đó cho thấy tấm lòng dành cho dân, cho nước của Bác vĩ đại nhường nào!

         Nơi thâm sơn cùng cốc ấy, Người ở - ăn - làm việc như thế nào?

“Sáng ra bờ suối tối vào hang”, câu thơ cho biết không gian sống của Bác là không gian núi rừng hoang sơ, dân dã: suối, hang. Không phải là tòa biệt thự đồ sộ, không phải là giường ấm, đệm êm dù Bác đang là một yếu nhân của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt, gian lao của đất nước, Người sẵn sàng sẻ chia thiếu thốn. Câu thơ có sự đối xứng nhịp nhàng: “sáng” - “tối”, “suối” - "hang”, “ra” - “vào”. Không gian và thời gian khép lại câu thơ đầy bóng tối: “tối”, “vào”, “hang”. Điều đó đã nhấn mạnh những gian khổ trong điều kiện ở của Bác. Chẳng nhừng vậy, điều kiện ăn uống của Bác cũng rất hạn chế: “Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”. “Cháo bẹ” là cháo ngô, loại thức ăn đạm bạc thường ngày của đồng bào dân tộc Việt Bắc. “Rau măng” cũng vậy. Nhà thơ Phạm Tiến Duật từng viết “Hết rau rồi em có lấy măng không?”, nghĩa là măng còn đạm bạc hơn cả rau rừng (vốn đã bị coi là đạm bạc rồi!). Nhưng dẫu thiếu thôn, gian khổ đến vậy, Người “vẫn sẵn sàng” cho công việc cách mạng, phục vụ cho lợi ích của nước, của dân.

       Và điều kiện làm việc của Người cũng không tránh khỏi những thiếu thốn “bàn đá chông chênh dịch sử Đảng”. Từ “chông chênh” là từ láy chỉ tư thế không vững chãi, ở vị trí bấp bênh. Hình ảnh “bàn đá chông chênh’ vừa gợi sự gian khổ của điều kiện làm việc vừa gợi tình thế gian nan của sự nghiệp cách mạng nước nhà. Hình ảnh Bác Hồ đăm chiêu làm việc bên một 'bàn đá chông chênh” gợi bao niềm cảm động trong lòng độc giả. Nhưng Bác không để cảm hứng bài thơ xuôi theo cảm xúc ủy mị, yếu ớt của sự thiếu thốn, gian khổ. Câu thơ hợp của bài tứ tuyệt thật độc đáo:

                     “Cuộc đời cách mạng thật là sang!”

      “Cuộc đời cách mạng” chính là cuộc sống với cái ở, cái ăn và sự làm việc như ba câu thơ trên. Bác dùng từ “thật là” mượn của khẩu ngữ rất tự nhiên, nó thể hiện sự cảm thán của người viết. Và chữ kết lại bài thơ thật bất ngờ: “thật là sang!”. Chữ “sang” mang ý nghĩa là sang trọng, đầy đủ. Chữ "sang” làm bật lên tiếng cười vui vẻ, niềm lạc quan trước cuộc sống gian khổ, thiếu thốn. Chính tinh thần ấy đã trở thành động lực để Bác cùng những người đồng chí vượt qua sự ngặt nghèo của đời sống và tình thế cách mạng để làm việc và chiến đấu. Chỉ một chữ mà khắc họa chân dung tinh thần của một con người. Chữ “sang” xứng đáng là “nhãn tự” của bài thơ tứ tuyệt “Tức cảnh Pắc Bó”.

        “Tức cảnh Pác Bó” của Hồ Chí Minh thể hiện tinh thần lạc quan của Bác Hồ trong những năm tháng khó khăn của đời sống cách mạng. Dù những điều kiện sinh hoạt vô cùng hạn chế song bằng tinh thần làm việc hăng say và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng của dân lộc, Bác vẫn lạc quan mỉm cười để lấy đó làm động lực hoạt đông. Bài thơ sử dụng một thể thơ cổ (thất ngôn tứ tuyệt) song ngôn ngữ rất giản dị, gần gũi, thậm chí có cả khẩu ngữ. Điều đó thể hiện tinh thần dân tộc trong ngòi bút thơ ca Hồ Chí Minh. Bài thơ cũng rất tinh tế trong việc lựa chọn trật tự từ, sử dụng từ ngữ... điều đó góp phần không nhỏ trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm.

         Cùng với “Vọng nguyệt”, “Nguyên tiêu”, “Cảnh khuya”...,“Tức cảnh Pác Bó” xứng đáng là một trong những bức chân dung tinh thần xinh xắn của con người vĩ đại Hồ Chí Minh.

 

IV. Tập thơ Nhật kí trong tù.

1. Hoàn cảnh ra đời

      Tháng 1- 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Bác về nước, để chỉ đạo cách mạng trong nước. Tháng 5 năm ấy Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Ðảng họp ở hang Pác Bó dưới sự chủ tọa của Người, quyết định thành lập Việt nam độc lập đồng minh tức là mặt trận Việt minh để đoàn kết đông đảo nhân dân đánh Pháp đuổi Nhật, giải phóng dân tộc. Cần tranh thủ thêm sự giúp đở của đồng minh, mà đồng minh gần ta nhất là Trung Quốc. Người hiểu biết trung Quốc hơn ai hết nên Trung ương cử Người đi Trùng Khánh nhằm mục đích tranh thủ sự viện trợ của chính phủ Tưởng Giới Thạch, bên trong thì đặt quan hệ với Ðảng Cộng Sản Trung Quốc. Bấy giờ Người đổi tên là Hồ Chí Minh.

     Ði suốt trong 10 ngày 5 đêm, đến một thị trấn Túc Vinh thuộc tỉnh Quảng Tây, bị khám xét, đồng chí người Trung Quốc dẫn đường không có giấy tờ bị bắt theo. Bọn bộ hạ của Tưởng cho là Bác sang phá tổ chức Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội của Trương Công Bội và Nguyễn Hải Thần, do chúng đỡ đầu. Cũng bởi thế cho nên những bức điện của Bác gởi cho bọn cầm quyền trong chính phủ Tưởng đều không được trả lời.

   Chúng giải Bác đi khắp nơi, tay bị trói cổ mang vòng xích, dầm mưa dãi nắng, trèo núi, vượt truông. Hơn một năm trong nhà tù Tưởng Giới Thạch Bác đã làm 134 bài thơ in trong cuốn Nhật lý trong tù trong đó có bài Mới ra tù tập leo núi làm sau khi Bác đã ra khỏi tù nhưng nhà xuất bản văn học vẫn in chung trong tập Nhật ký trong tù, xuất bản 1960.

Tháng 5- 1990, kỷ niệm ngày sinh 100 của Bác, người ta đã tìm được 20 bài thơ chữ hán viết trong thời kỳ bác bị giam giữ trong nhà tù Tưởng Giới Thạch. Như vậy, Nhật lý trong tù sẽ có 134 bài thơ bằng chữ Hán.

   Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Tây ngày 29-8-1942 được trả tự do ngày 10-9-1943, một năm sau nữa, tháng 9-1944, nhà đương cục Trung Quốc mới để Bác về nước. Bác viết Ngục trung nhật ký trong hoàn cảnh ấy. Ơí đây thơ bật ra ngoài ý muốn của Người.

      Nhật ký trong tù là cuốn nhật ký ghi chú sự việc xảy ra trong những ngày Bác bị giam giữ. Nhật ký trong tù viết bằng thơ chữ Hán không phải là một bài thơ trường thiên liền mạch mà là nhiều bài, mỗi bài về một vấn đề, thể điệu có thay đổi nhưng phần lớn là thơ thất ngôn tứ tuyệt.

Thơ văn trong tù xưa nay có nhiều bài nổi tiếng như Thi tù tùng thoại của Huỳnh Thúc Kháng, Xiềng Xích của Tố Hữu. Văn học thế giới có tác phẩm vĩ đại Viết dưới giá treo cổ của Phu Xích và Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh là một điều hiếm có.

2. Nội dung tác phầm Nhật ký trong tù

   a. Nhật ký trong tù thực chất là một bức tranh thu nhỏ của xã hội Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch
     Xã hội Trung Quốc thời kỳ 1942-43 mục ruỗng từ lâu đời. Nhật ký trong tù đã ghi lại sự việc Bác đã phải sống, đã chứng kiến. Quang cảnh Bác nhìn thấy ở những nơi bị giam hay bị giải đi qua: chuyện bị bắt ở Túc Vinh, sáng trưa, chiều tối. Chuyện cái cùm, dây trói, cảnh người tù cờ bạc bị chết. Ðây là đặc trưng của bút pháp tả thực, đứng ở một góc độ nhất định để diễn tả được một cách rõ ràng, chính xác… Bác đã đứng ở góc độ người tù nhân đã tường tận nếm trải mọi cực hình, chứng kiến mọi sự việc xảy ra trong nhà tù Tưởng Giới Thạch.

    Toàn bộ những cảnh tượng đã xảy ra trong Nhật ký trong tù là hình ảnh thu nhỏ của một xã hội Trung Quốc thời bấy giờ. Biết bao những thối nát bất công và tàn bạo của chế độ Tưởng đang đè nặng lên cuộc sống của dân lành. Nói tới sự bất công ngang trái của chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch những bài thơ trong Nhật ký như là một cái tát vào mặt kẻ thù. Chất thép của Nhật ký trong tù là ở đó.
  b. Nhật ký trong tù thể hiện một tâm hồn cao đẹp của Người

     Nói tới tâm hồn có nghĩa là nói tời tình cảm trước hết nói tới tình yêu thương con người của Bác. Trong văn học nhất là văn học cổ điển, có những trường hợp tư tưởng tác phẩm tự đặt ra những vấn đề mà tác giả không hề nghỉ tới như truyện Kiều của Nguyễn Du. Với Nhật ký trong tù thì trái lại, Bác chưa nói được hết những điều muốn nói. Nhưng không phải vì thế mà phẩm chất đạo đức của Bác không ngời sáng trong thơ. Ðồng chí Viên Ưng một nhà thơ Trung Quốc, sau khi đọc Nhật ký trong tù viết: Chúng ta được gặp tâm hồn vĩ đại của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng…tôi cảm thấy trái tim vĩ đại đó tỏa ánh sáng chói ngời trong một hoàn cảnh tối tăm.

     Ánh sáng ấy trước hết là ánh sáng của tình thương người. Ðồng chí Phạm Văn Ðồng nói: Tình nhân đạo, tình thương đồng bào đó là điều sâu sắc nhất và tốt đẹp nhất trong con người Hồ Chủ tịch.

   c. Nhật ký trong tù đã thể hiện một tinh thần bất khuất kiên cường

     Tình thương người lòng yêu đời, yêu nước trong thơ Bác về một mặt là kế tục truyền thống thơ xưa, nhưng mặt khác lại không giống thơ xưa, nó là tâm tình của một người Cộng sản, nó gắn liền với chiến đấu, vững tin ở chiến thắng. Bác từng nói rất rõ:

                     “Nay ở trong thơ nên có thép
               Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
                        (Cảm tưởng đọc Thiên gia thi)

     Ý chí sắt đá và tinh thần rèn luyện cao độ, Bác đã giữ vững qua muôn vàn khổ cực và cũng đã từng nói lên được trong những hình ảnh nên thơ:

                 “Gạo đem vào giã bao đao đớn
                  Gạo giã xong rồi trắng tựa bông”
                                              (Nghe tiếng giã gạo)

     Cuộc đời hoạt động của Bác là một bài thơ lớn, tràn đầy sức sáng tạo. Nhật ký trong tù không thể nào sánh được với toàn bộ bài thơ lớn ấy. Bác là người làm thơ trong cuộc đời nhiều hơn văn thơ. Trong sự nghiệp chung của Bác văn thơ chỉ là chuyện phụ.

      Trong cuộc sống nghèo nàn ấy, Bác đã tìm đủ đề tài cho hơn một trăm bài thơ. Cơ hồ như đối với Bác chuyện gì cũng thành thơ.Chuyện núi non trăng hoa thành thơ mà chuyện dưa cà mắm muối cũng thành thơ. Bác làm thơ vì một cái răng, một cái gậy, kể cả những chuyện rất ít nên thơ cũng thành thơ.     Cho nên khi Bác nói trong thơ nên có thép ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép trong thơ. Có lẽ phải hiểu một cách rất linh hoạt mới đúng.”Không phải chỉ nói chuyện thép và giọng thép mới là có tinh thần thép”. Trong thơ văn cũng như trong cuộc đời cái điều quan trọng nhất vẫn là cái thực chất của con người Nhật ký trong tù ít có những lời hô to nói lớn:

                “Giọng của người không phải sấm trên cao
                  Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước”
                                                        (Sáng tháng năm)

    Bác cứ nhỏ nhẹ, cứ hồn nhiên mà toàn bộ tập thơ toát lên một tinh thần thép, tinh thần của một anh hùng bất khuất, luôn luôn vững bước tiến lên, bền gan chiến đấu.

    Sống trong tù lúc nào Bác cũng thể hiện được phong thái ung dung, bình tĩnh, phảng phất thơ văn của nhà nho xưa đầy khí tiết. Nhưng cái ung dung ngày trước có khi là cái ung dung của người quay lưng lại với cuộc đời: trả áo mũ về sống ẩn dật, hay bất chấp mọi nỗi thăng trầm của thế sự. Bác hoàn toàn không phải như vậy. Ðồng chí Phạm Văn Ðồng nói:”Hồ Chủ tịch là hình ảnh của sức mạnh bình tĩnh không khiếp sợ, không hoảng hốt, đó là sức mạnh của những người sống một nhịp với trào lưu của thế giới, với quy luật tiến hóa của lịch sử. Chính Bác cũng đã nói:

                                   “Sự vật vẫn xoay đà định sẳn
                                    Hết mưa là nắng ửng lên thôi”
                                                                      (Trời hửng)

        Nhật ký trong tù chúng ta tìm thấy một sức chịu đựng vô cùng mãnh liệt ở Bác. Nhà tù đã đày đọa thân thể Bác, chúng giải Bác đi khắp nhà tù này đến nhà tù khác, tối ngủ chân bị cùm, đi thuyền thì bị treo giò

                  “Bốn tháng cơm không no
                    Bốn tháng đêm không ngủ
                    Bốn tháng không giặt giũ
                    Bốn tháng không thay quần áo”

     Bị giam lâu, chân mềm như trùn, thế mà lúc ra tù, Bác tập leo núi ngay để chờ lúc băng núi rừng về nước. Ðó là cái gương cương nghị ở Bác.

      Bài thơ “Bốn tháng rồi” đã tổng kết một chặng đường đấu tranh lâu dài, khốc liệt của Bác ơ trong tù. Chứng kiến những nổi đau khổ đè nặng lên con người Bác, huỷ hoại thân thể Bác chúng ta cảm thấy hết sức đau lòng và càng kính yêu Bác. Chúng ta cũng vô cùng sung sướng tự hào trước chiến thắng của tinh thần Bác, tinh thần của một chiến sỹ công sản vĩ đại đã bất chấp cả bạo lực của kẻ thù. Bằng sức mạnh của nghệ thuật, Người đã truyền cho chúng ta một bài học của một tâm hồn sáng chói, bất diệt:

                     “Vật chất tuy đau khổ
                       Không nao núng tinh thần “
                                                      (Bốn tháng rồi)

     Nhờ có tinh thần thép mà mọi gian nguy, hiểm nạn Bác đều vượt qua. Nhờ có tinh thần thép mà mọi thiếu thồn về vật chất Bác đã đẩy lùi. Bác là tinh hoa của lịch sử, khí phách dân tộc, và tâm hồn thời đại.

 3. Nghệ thuật tác phẩm Nhật ký trong tù

   a. Nhật ký trong tù đẹp một vẻ đẹp giản dị

Theo ý Xuân Diệu: “Thơ Nhật ký trong tù theo ý tôi, rất dễ và rất khó. Dễ là dễ hiểu, giản dị, gần gũi với mọi người, các bài có cơ sở đầu tiên ở thực tế dễ thông cảm. Nhưng nếu chưa nâng tâm trí mình lên đúng mức thì chưa thấy hết các tinh tuý ở bên trong thơ, cho nên nói là rất khó”. Xuân Diệu viết tiếp:”Nếu ai đọc cứ quen theo thị hiếu thông thường, thích lời thơ phải hoa mỹ như cô gái đeo nhiều nữ trang, thích vị thơ phải chua cay, ngọt…thì người ấy sẽ thấy thơ này bình thường quá. Phải ở trong cái không khí cao sáng của trí tuệ này, phải nối liền mạch với trái tim rất nhân đạo này thí mới nhận hết được cái chất thơ cao quý này. Người xưa nói:” Ðối diện đàm tâm” nghĩa là mặt nhìn mặt miệng không nói mà hai tâm hồn trò chuyện, như vậy là tinh vi lắm, là cái thứ im lặng rất cao đàm tâm được với nhau”. Ðọc Nhật ký trong tù cũng phải tế nhị như vậy. Cái hay vô song của tập thơ là chất người cộng sản Hồ Chí Minh, được đào tạo trong lò hun đúc của Lê Nin mà vẫn mang cái tinh anh của Nguyễn Trãi, Văn Thiên Tường…

   b. Nghệ thuật trào phúng

       Nhật ký trong tù ta tìm thấy nghệ thuật trào phúng, nụ cười trào phúng lúc thì đau đớn lúc thì chua xót “cái cùm” và sự đới nhiều khi đến kỳ lạ:

           “Ðược cùm chân mới yên bề ngủ
             Không được cùm chân biết ngủ đâu”

Có khi nụ cười gắn với lời tố cáo, như bài “cờ bạc” mở đầu trình bày sự việc rất điềm tỉnh

             “Ðánh bạc ở ngoài quan bắt tội
              Trong tù đánh bạc được công khai”

Ðột nhiên ngòi bút sắc, mạnh đánh kẻ thù bật ngã mà vẫn cứ mát mẻ:

              “Bị tù con bạc ăn năn mãi
         Sau trước không vô quách chốn này”
   c. Nghệ thuật triết lý
        Nghệ thuật thơ Bác là nghệ thuật những bài thơ triết lý sâu sắc như bài “Nửa đêm”
        Hay bài “Nghe tiếng giã gạo”, bài “Học đánh cờ”. Mỗi bài thơ nêu lên một thái độ sống, hay sự nhìn nhận đúng, hoặc đề ra một cách giải quyết về những định đề đã nêu ra.

        Chúng ta quán triệt toàn bộ thơ Bác là tư tưởng của một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà Cách mạng vĩ đại. Thơ Bác không phải biểu hiện cuộc sống mà còn cải tạo cuộc sống, chỉ đạo cuộc sống. Ðó là tính Ðảng cộng sản lớn lao, đó chính là chất thép của thời đại.

       Nói đến thơ Bác không thể không nói đến nghệ thuật. Vì thơ Bác là thơ của tâm hồn, thơ của tình cảm, thơ của tư tưởng, thơ của hành động, Bác đã sử dụng không biết bao nhiêu phương tiện biểu hiện thật hết sức phong phú đa dạng, nhiều lúc tưởng như trái ngược nhau mà lại có một sự nhất quán lạ lùng đó là sự bình dị tuyệt vời không có ai có thể bắt chước được.

4. Kết luận

       Tập thơ Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy viết bằng chữ Hán nhưng về mặt nội dung và cả về mặt phong cách nghệ thuật rõ ràng là một tác phẩm văn học Việt nam đậm đà tính dân tộc. “một tác phẩm văn học lớn có tác dụng giáo dục sâu sắc phầm chất đạo đức Cách mạng cho tất cả chúng ta ngày nay”.(Lời nói đầu khi xuất bản cuốn Nhật ký trong tù của Viện văn học ). Tập thơ đưa ta đi sâu vào những cảm xúc, những suy nghĩ, những băn khoăn của một con người cộng sản vĩ đại trong một hoàn cảnh khó khăn. Chúng ta có cái may mắn được nghe những lời tâm sự của một vị lãnh tụ kính yêu vì thế tấm gương đạo đức cao cả của Người đối với ta vô cùng gần gũi. Tôi muốn nhắc lại ý thơ của Hoàng Trung Thông trong bài “đọc thơ Bác”

                    Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp
                     Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh
                     Vần thơ của Bác vần thơ thép
                     Mà vẫn mênh mông bát ngát tình

 

V. Tình yêu thiên nhiên, tình yêu đất nước thống nhất hài hòa của Hồ Chí Minh qua bài thơ  “Ngắm trăng” và “Đi đường”

 1. Bài thơ  “Ngắm trăng”

      Bài thơ rút trong "Nhật ký trong tù"; tập nhật ký bằng thơ được viết trong một hoàn cảnh đoạ đầy đau khổ, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi Bác Hồ bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ. Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng trong nhà tù, qua đó nói lên một tình yêu trăng, yêu thiên nhiên tha thiết. Đọc bài thơ đầu ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện.

                "Trong tù không rượu cũng không hoa
                  Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ"

     Hai câu thơ đầu ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện. Đang sống trong nghịch cảnh, và đó cũng là sự thật "Trong tù không rượu cúng không hoa" thế mà Bác vẫn thấy lòng mình bối rối, vô cùng xúc động trước vầng tăng xuất hiện trước cửa ngục đêm nay. Một niềm vui chợt đến cho thi nhân bao cảm xúc, bồi hồi. Trăng, hoa, rượu là ba thú vui tao nhã của khách tài tử văn chương. Đêm nay trong tù, Bác thiếu hản rượu và hoa, nhưng tâm hồn Bác vẫn dạt dào trước vẻ đẹp hữu tình của thiên nhiên. Câu thơ bình dị mà dồi dào cảm xúc. Bác vừa băn khoăn, vừa bối rối tự hỏi mình trước nghịch cảnh: Tâm hồn thì thơ mộng mà chân tay lại bị cùm trói, trăng đẹp thế mà chẳng có rượu, có hoa để thưởng trăng?

     Nhưng cũng chính vào những phút giây căng thẳng như thế, Hồ Chí Minh lại cũng tìm được cách để giành lấy một sự thư thái, nó là trạng thái cân bằng không thiếu được, nói như cách nói tâm lý học: ông đã tự phân thân để có một cuộc sống thứ hai - nghĩa là từ trong tâm thức, ông đã mang sẵn cốt cách một thi nhân. Và ở đây ta đang nói đến những ngày tù ngục trong nhà tù Quốc dân Đảng Trung Quốc, cuộc sống thứ hai trong khung cảnh tù đày của Hồ Chí Minh là cuộc sống bên trong, cuộc sống hướng nội. Hướng nội - trong cách nhìn sự vật, trong cách độc thoại với chính mình, và hướng nội cả trong cách "vượt ngục" bằng "ý tại ngôn ngoại" của những vần thơ tù.

      Ở đây sự "vượt ngục" đã hoàn thành một cách thần kỳ, sự phấn đấu trở nên hài hòa, hồn nhiên, thư thái: "Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ; Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ". "Trong tù không rượu cũng không hoa" là việc cố nhiên. Nhưng "Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ" không phải việc cố nhiên nữa. Chúng ta sống trong cõi đời tự do mà còn chẳng để ý đến sự tròn khuyết của vầng trăng ngay trên đầu, nói chi đến một người tù. Câu thứ hai đã là một tâm hồn thi nhân - hiền triết trong sáng và tinh tế. Thấy trăng đẹp mà bối rối cả tâm trí: "làm thế nào bây giờ" quả là một tâm hồn thơ mộng. Cái thơ mộng này sóng đôi với cái thực tế trên tạo nên một thi vị rất "uá mua" của Hồ Chí Minh. ông yêu rất nghệ sĩ vầng trăng trên đầu, nhưng ông cũng không quên rất cụ thể cái cùm sắt dưới chân. Thơ mộng nhưng không viển vông. Thiết thực nhưng không chặt đi đôi cánh lãng mạn của trí tưởng. Ba yếu tố rượu, hoa, trăng thì thiếu mất hai rồi. Nhưng tâm hồn nhà thơ vẫn dọn một bữa tiệc thưởng nguyệt độc đáo:

               "Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
                Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ"

     Ít thấy ai thương trăng trong cái tư thế lạ kỳ này. Đọc lại nguyên văn chữ Hán để thấy rõ hơn vị trí của ba "nhân vật": người, trăng và cái song sắt nhà tù. "Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt, Nguyệt tòng song khích khán thi gia". Nhân, nguyệt rồi nguyệt, thi gia ở hai đầu câu thơ, cái song sắt chắn giữa. Trong mối tương giao tri kỷ tri âm giữa con người và vầng trăng, cái song sắt hiện lên thật thô bạo và bất lực. Hồ Chí Minh ngắm trăng rất giống người xưa trong niềm say mê cái đẹp thiên nhiên nhưng cũng khác người xưa trong sự phát hiện vẻ đẹp của cõi người. Người xưa ngắm trăng thấy trăng đẹp trăng trong càng ngậm ngùi cho cõi đời trầm luân cát bụi. Với Hồ Chí Minh, người ngắm trăng, mê trăng thì trăng cũng mê người. Đây không chỉ là cái hay của bút pháp mà chính là vẻ đẹp của một nhân sinh quan. Cũng cần chú ý thêm: để biểu hiện con người, ở đầu câu thơ trên tác giả dùng chữ nhân, ở cuối câu thơ dưới tác giả dùng thi gia. Hai chữ ấy, cố nhiên, vẫn chỉ là một đối tượng, nhưng đã có sự biến đổi: trước cuộc ngắm trăng, đấy là người tù, sau cuộc ngắm trăng người tù biến mất và xuất hiện nhà thơ. Rõ ràng đã có một cuộc "vượt ngục", và như đã nói trên: cuộc "vượt ngục" đã hoàn thành một cách thần kỳ.

     Bác đã quên đi trong phút chốc cái hiện thực phũ phàng, nghiệt ngã chố lao tù để thảnh thơi mà "thưởng nguyệt" như cái thú thanh cao của thi sĩ muôn đời. Vẻ đẹp thiên nhiên ở đây giản dị mà độc đáo : ánh trăng soi qua khung cửa sổ nhà lao và trở thành tri âm, tri kỉ của người tù.

     Ngắm trăng, thưởng trăng đối với Bác Hồ là một nét đẹp của tâm hồn rất yêu đời và khát khao tự do. Tự do cho con người. Tự do để tận hưởng mọi vẻ đẹp thiên nhiên của quê hương xứ sở.Dù trong hoàn cảnh ngục tù đau khổ thiều thốn nhưng Bác vẫn tự tạo cho mình 1 tư thế ngắm trăng tuyệt đẹp.

 

 2. Bài thơ  "Đi đường"

       "Đi đường" là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt số 30 trong "Nhật kí trong tù". Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giải lui giải tới qua nhiều nhà tù trên tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trải qua bao cay đắng thử thách nặng nề, Người gửi gắm bao suy nghĩ, cảm xúc của minh vào bài thơ “Tẩu lộ" này. Nam Trân đã dịch thành thơ lục bát:

"Đi đường mới biết gian lao,

Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;

Núi cao lên đến tận cùng,

Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non".

      Bài thơ mang hàm nghĩa. Tác giả mượn chuyện đi đường- để nêu lên cảm nhận đường đời vô cùng khó khăn, nguy hiểm; phải có quyết tâm cao, nghị lực mới chiến thắng thử thách, mới giành được thắng lợi vẻ vang.

       Hai câu đầu trong bài thơ chữ Hán có nghĩa là:

"Có đi đường mới biết đường đi khó,

Hết lớp núi này lại tiếp đến lớp núi khác".

       Câu thứ nhất nêu lên một kinh nghiệm, một chiêm nghiệm sống ở đời, đó là chuyện đi đường và bài học đi đường khó. Với nhà thơ, con đường được nói tới còn là con đường cách mạng vô cùng nguy hiểm: "Là gươm kề tận cổ, súng kề tai - Là thân sống chỉ coi còn một nửa" ("Trâng trối - Tố Hữu). Hình ảnh con đường được miêu tả bằng điệp ngữ "trùng san" đã làm nổi bật khó khăn, thử thách chồng chất, người đi đường luôn luôn đối diện với bao gian khổ. Câu thơ chữ Hán không hề có chữ "cao"', dịch giả đã thêm vào, người đọc thơ cần biết:

"Đi đường mới biết gian lao,

Núi cao rồi lại núi cao trập trùng".

         Hai câu thơ đầu về mặt văn chương chữ nghĩa không có gì mới. Ý niệm: "hành lộ nan" đã xuất hiện trong cổ văn hơn nghìn năm về trước. Thế nhưng vần thơ Hồ Chí Minh hay và sâu sắc ở tính nghiệm sinh; nó cho thấy trải nghiệm của một con người "ba mươi năm ấy chân không nghỉ" (Tố Hữu), để tìm đường cứu nước. Con đường mà người chiến sĩ ấy đã vượt qua đâu chỉ có "Núi cao rồi lại núi cao trập trùng" mà còn đầy phong ba bão táp, trải dài trải rộng khắp bốn biển năm châu:

"Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể

 Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi

Những đất tự do, những trời nô lệ

Những con đường cách mạng đang tìm đi...".

(Người đi tìm hình của nước)

      Người xưa có nhắc: "Đọc sách người ấy, đọc thơ người ấy, phải biết con người ấy" là thế.

       Hai câu cuối cấu trúc theo mối quan hệ điều kiện - hệ quả. Khi đã chiếm lĩnh được đỉnh cao chót vót (cao phong hậu) thì muôn dặm nước non (vạn lí dư đồ) thu cả vào tầm mắt:

"Núi cao lên đến tận cùng,

Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non".

        Muốn vượt qua các lớp núi lên đỉnh cao chót vót thì phải có quyết tâm và nghị lực lớn. Chỉ có thế mới giành được thắng lợi vẻ vang, thu được kết quả tốt đẹp. Câu thơ Hồ Chí Minh hàm chứa bài học quyết tâm vượt khó, nêu cao ý chí và nghị lực trong cuộc sống để giành thắng lợi. Bài học "Đi đường" thật là vô giá đối với bất cứ ai.

        "Nhật kí trong tù" có nhiều bài thơ viết về đề tài "đi đường" như "Thế lộ nan", "Tẩu lộ", "Lộ thượng",... Đó là những vần thơ giàu chất trí tuệ, mang ý vị triết lí, được đúc kết từ máu và nước mắt:

"Núi cao gặp hổ mà vô sự,

Đường phẳng gặp người bị tổng lao".

"Xử thế từ xưa không phải dễ,

Mà nay, xứ thế khó khăn hơn".

(Đường đời hiểm trở)

      Bài thơ "Đi đường" cho ta bài học về đường đời nhiều khó khăn nguy hiểm, bài học về quyết tâm, vượt khó, vươn lên giành thắng lợi trên con đường đời. Mỗi cuộc đời là một trăm năm, ai cũng phải một trăm năm đi đường. Có con đường lao động mưu sinh, có con đường công danh lập nghiệp. Tuổi trẻ còn có con đường học tập. Bài thơ "Đi đường" trở thành hành trang cho mỗi chúng ta sức mạnh để vươn lên thực hiện ước mơ của mình.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN IV

                    LUYỆN TẬP CÁC ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN

 

Đề 1 : Nhà văn Đặng Thai Mai có viết: “Thơ của Bác thật sự là thơ, là thơ của một thời đại mới, vì thơ của Bác bao hàm hai yếu tố hòa hợp với nhau một cách nhuần nhụy: chất trữ tình và chất thép".

Thế nào là chất trữ tình? Thế nào là chất thép? Thế nào là sự hòa hợp với nhau một cách nhuần nhụy? Phân tích một số bài thơ của Hồ Chí Minh để chứng minh chất trữ tình và chất thép trong thơ Người kết hợp một cách nhuần nhụy.

I. MỞ BÀI

-     Bác Hồ không có ý định trở thành nhà thơ, nhưng thực tế, Người lại là nhà thơ lớn.

-     Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình khi tìm hiểu thơ Hồ Chí Minh đều nhất trí là chất trữ tình và chất thép trong thơ Người hòa hợp một cách nhuần nhụy.

II. THÂN BÀI

A. GIẢI THÍCH

1. Thế nào là chất trữ tình?

Chất trữ tình trong thơ là những cảm xúc, rung động của nhà thơ trước cái đẹp (của tạo vật, của tình người).

2. Thế nào là chất thép?

Chất thép trong thơ là tính chiến đấu, là ý chí bất khuất kiên cường, niềm lạc quan tin tưởng... vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng.

3. Thế nào là sự hòa hợp nhuần nhụy chất trữ tình và chất thép?

Đó là sự gắn bó, xen cài chặt chẽ không thể tách rời được giữa cảm xúc, rung động về cái đẹp và khát vọng chiến đấu, ý chí nghị lực... của nhà thơ.

B. CHỨNG MINH

1. Chất trữ tình và chất thép trong thơ Hồ Chí Minh hòa hợp một cách nhuần nhụy

-     Phần lớn thơ Người được sáng tác trong hai thời kì:

•    Năm 1942 đến 1943, lúc Người bị nhà cầm quyền Trung Quốc (cũ) bắt giam.

•      Thời kì ở Việt Bắc.

-     Sự hòa hợp nhuần nhụy hai yếu tố chất trữ tình và chất thép trong Nhật kí trong tù (sáng tác trong thời gian từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943):

•     Nhiều bài thơ trong Nhật kí trong tù nói lên cảm xúc, rung động của Hồ Chí Minh trước vẻ đẹp thiên nhiên. Đó là tình yêu trăng:

Người ngắm trăng soi ngoài, cửa sổ,

Trăng nhòm, khe cửa ngắm nhà thơ.

                                                                                    (Ngắm trăng)

•     Đó là niềm vui say với chim, núi, hoa rừng trên đường bị giải đi:

Mặc dù bị trói chân tay,

          Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng;

Vui say, ai cấm ta đừng,

             Đường xa, âu cũng bớt chừng quạnh hiu.

                                                (Trên đường)

•  Đó là niềm vui trước cảnh sống của người dân Trung Quốc (Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh, Cảnh đồng nội...).

Đặt các bài thơ trên vào hoàn cảnh cụ thể (bị tù đày, đời sống của người tù vô cùng gian khổ, tuổi cao, đói rét, bệnh tật), ta mới thấy hết sức sống mạnh mẽ của Hồ Chí Minh: lạc quan, yêu con người, cuộc sống. Đó chính là chất thép trong thơ Người.

-     Sự hòa hợp nhuần nhụy chất trữ tình và chất thép trong các bài thơ của Người sáng tác thời kì ở Việt Bắc (1946 - 1954):

•     Thời kì này, Người rất bận rộn. Tuy vậy lúc rỗi, có cảm hứng, Người vẫn sáng tác thơ, Số lượng tuy không nhiều (khoảng vài chục bài) nhưng ấn tượng để lại trong lòng người đọc rất sâu sắc. Phần lớn các bài thơ (Cảnh khuya, Rằm tháng giêng, Tin thắng trận, Tặng cụ Bùi, Cảnh rừng Việt Bác, Không đề) đều nói lên xúc cảm của tác giả trước cảnh đẹp cửa núi rừng Việt Bắc, tình cảm đối với bạn bè, đối với nhân dân, đất nước, Đó là yếu tố trữ tình trong thơ Người.

•     Nhưng mặt khác, qua các bài thơ trên, Người thể hiện phong thái ung dung, niềm lạc quan tin tưởng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc:

Tin vui thắng trận dồn chân ngựa,

                                                                Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài.

                                                                                    (Tặng cụ Bùi)

Hoặc:       

Việc quân, việc nước đã bàn,

     Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau.

                                                                                    (Không đề)

Thời kì này, cuộc kháng chiến chống Pháp ở vào giai đoạn rất khó khăn. Đời sống Việt Bắc thiếu thốn, Bác đã gần sáu mươi tuổi... Đặt tác phẩm vào hoàn cảnh cụ thể, ta càng thấy rõ chất thép trong thơ Người.

2. Vì sao chất thép và chất trữ tình lại hòa hợp nhuần nhụy trong thơ Hồ Chí Minh?

-     Hồ Chí Minh là nhà thơ - chiến sĩ. Thép là tính chiến đấu của người chiến sĩ, tình là chất thơ của nhà thi sĩ. Bởi vậy, thép và tình trong thơ Người hòa hợp với nhau nhuần nhụy.

-     Đó là nét phong cách của thơ Hồ Chí Minh "Giữa hai con người - con người chiến sĩ cách mạng và con người văn nghệ -con  người nào nổi bật nhất trong thơ cụ Hồ? Câu hỏi đó đến với ta tự nhiên, nhưng thực ra không có câu hỏi nào sai lầm hơn... Người chiến sĩ đấu tranh cho độc lập của Việt Nam, diễn đạt ý nghĩ, cảm xúc của mình bằng hình ảnh một cách tự nhiên, với cốt cách một thi nhân. Ở tác giả, con người chiến sĩ cộng sản và con người nghệ sĩ kiểu mới chỉ là một" (Bu-đa-ren - Một cốt cách cổ điển và những sáng tạo hiện đại - Nghiên cứu văn học, số 7, 1960).

III. KẾT BÀI

-     Sự hòa hợp nhuần nhụy giữa chất trữ tình và chất thép là điểm đặc sắc nổi bật trong thơ Hồ Chí Minh. Thơ cổ điển thiên về trình bày cảm xúc đối với thiên nhiên:

Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông;

                                      (Cảm tưởng đọc "Thiên gia thi")

Thơ của các chiến sĩ cách mạng thì hình ảnh nổi bật vẫn là người chiến sĩ, âm hưởng chủ đạo là âm hưởng của chất thép.

-     Sự hòa hợp nhuần nhụy đó đã làm cho thơ Người "thực sự là thơ, là thơ của thời đại mới".

 

 

 

Đề 2 : Trong bài đề từ trên trang bìa tập “Nhật kí trong tù” - Hồ Chí Minh, có hai câu thơ:

“Thân thể ở trong lao

  Tinh thần ở ngoài lao”

  Em hãy phân tích bài thơ “Ngắm trăng” trích trong “Nhật kí trong tù” để làm sáng tỏ ý chính của hai câu thơ trên.

A-Mở bài

   - Giới thiệu khái quát về Hồ Chí Minh và tập thơ “Nhật kí trong tù”

   - Một trong những vẻ đẹp về nội dung của tập nhật kí đồng thời cũng là vẻ đẹp của con ng­ười Hồ Chí Minh là sự vư­ợt ngục về tinh thần, điều đó thể hiện rõ ngay từ lời đề từ mở đầu tập nhật kí (Trích dẫn 2 câu thơ trong bài đề từ) và được thể hiện cụ thể, sinh động trong bài thơ “Ngắm trăng”.

B-Thân bài

  1-Giải thích nội dung ý nghĩa hai câu thơ trong bài đề từ tập nhật kí trong tù

    Là lời khẳng đinh mặc dù bị giam hãm trong tù ngục nh­ưng song sắt nhà tù chỉ giam cầm đ­ược thể xác chứ không giam hãm đ­ược tinh thần của ngư­ời tù- ng­ười chiến sỹ cách mạng Hồ Chí Minh

   2- Chứng minh nội dung ý thơ qua bài thơ “Ngắm trăng”

    Bài thơ “Ngắm trăng” là một trong những bài thơ tiêu biểu thể hiện rõ nhất cho lời khẳng định “Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao”

*Hai câu đầu:

  +Hoàn cảnh ngắm trăng của ngư­ời tù hết sức đặc biệt: mất tự do về thân thể (trong tù), thiếu “r­ượu”, “hoa” những thứ không thể thiếu khi thư­ởng nguyệt của các thi nhân xư­a. Điệp ngữ “không” khẳng định sự thiếu thốn trong cảnh ngục tù đày.

  +Tuy nhiên, trư­ớc đêm trăng đẹp tâm hồn thi sĩ đã bối rối, xúc động, xốn xang. Học sinh cần phân tích câu thơ phiên âm để thấy được tâm trạng cảm xúc của Bác: Câu hỏi tu từ “Đối thử l­ương tiêu nại nh­ược hà” biểu hiện tâm trạng của Bác trư­ớc cảnh đẹp đêm trăng.

*Hai câu cuối

  +Vư­ợt lên trên cảnh ngộ, những thiếu thốn của chốn lao tù, Bác mở rộng hồn mình để cảm nhận vẻ đẹp của đêm trăng. Biện pháp đối ngữ (nhân- minh nguyệt, nguyệt- thi gia) , nghệ thuật nhân hóa, cách sử dụng từ “khán” thay cho “vọng” ở nhan đề thể hiện mối quan hệ bạn bè tri âm, tri kỉ giữa trăng với ng­ười tù.

  +Sự giao hòa giữa Bác với vầng trăng biểu thị tình yêu thiên nhiên, tinh thần lạc quan, sự tự do nội tại cao độ, khát vọng tự do, là cuộc vư­ợt ngục bằng tinh thần của Bác.

  +Mở đầu bài thơ là hình ảnh ng­ười tù như­ng kết thúc bài thơ chỉ có hình ảnh “thi gia”, kẻ thù chỉ có thể giam cầm thân thể Bác chứ không giam hãm đ­ược tâm hồn Bác đúng như­ Bác đã từng viết “Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao”

   3- Đánh giá: Ngắm trăng là thi phẩm đặc sắc trong “ Nhật kí trong tù”. Với người tù Hồ Chí Minh, trăng tượng trưng cho vẻ đẹp cao quý, thanh bình. “Ngắm trăng” cho ta hiểu sâu hơn về tình yêu thiên nhiên thắm thiết và phong thái ung dung tự tại của Hồ Chí Minh ngay cả trong ngục tù tăm tối. Song sắt nhà tù trở nên vô nghĩa. Nhà tù có thể giam cầm Hồ Chí Minh về thể xác nhưng không thể nào giam hãm tinh thần tự do của Bác. Giữa Bác và trăng luôn có mối quan hệ gần gũi, tri âm, tri kỉ.

C-Kết bài

  Bài thơ “Ngắm trăng” thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, bản lĩnh, ý chí, nghị lực của Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh lao tù, đó là biểu hiện của “chất thép” sáng ngời trong thơ của Bác cũng như trong tập nhật kí trong tù.

      

Đề 3: Hình tượng người chí sĩ cách mạng trong bài thơ “Đập đã ở Côn Lôn”

I. Mở bài

·           Giới thiệu một vài nét về tác giả.

Phan Châu Trinh ( 1872-1926) quê ở Quảng Nam đỗ Phó bảng. Cụ là một chiến sĩ yêu nước, một nhà cách mạng lỗi lạc của nước ta. Cụ là chiến sĩ tiên phong nêu cao ngọn cờ dân chủ, chống phong kiến thực dân, giải phóng dân tộc. Thơ văn của cụ vừa đanh thép hùng biện vừa thắm thiết trữ tình.

·           Xuất xứ.

Năm 1908 phong trào chống sưu thuế của nhân dân ta ở Trung Kì nổ ra dữ dội, bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Nhiều sĩ phu yêu nước bị giặc Pháp bắn giết, tù đày. Phan Châu Trinh đã bị cầm tù, bị đày ra Côn Lôn. Bài thơ Đập đá ở Côn Lôn được cụ viết khi làm lao động khổ sai trên Côn Đảo.

·           Chủ đề.

Mượn chuyện đập đá của lũ khổ sai trên đảo Côn Lôn, tác giả bày tỏ khí phách ngang tàng, coi thường mọi gian nan thử thách, luôn giữ vững niềm tin và ý chí chiến đấu kiên cường bất khuất của người chiến sĩ yêu nước.

·           Có thể trích dẫn cả bài thơ, hoặc trích dẫn đầu – cuối (câu 1 và câu 8)

II- Thân bài

   1. Hai câu đề thể hiện một tư thế ngang tàng của một đấng nam nhi, không phải sống trong cảnh “khom lưng quỳ gối” ở chốn quan trường, mà là “đứng giữa đất Côn Lôn “, một nhà tù, một địa ngục. Đầu đội trời, chân đạp đất, tai nghe sóng vỗ suốt đêm ngày. “Lừng lẫy” nghĩa là vang động, chấn động. Công việc đập đá, công việc lao động khổ sai là một thử thách vô cùng nặng nề, nhưng đối với kẻ làm trai càng thể hiện khí phách, uy dũng của mình :            

                                   Lừng lẫy làm cho lở núi non”.

Một khẩu khí mạnh mẽ, một lối nói khoa trương đầy ấn tượng về chí nam nhi: sẵn sàng chấp nhận thử thách, sống ngang tàng hiên ngang.

  2. Câu thực đối nhau. Nghĩa đen ghi lại công việc đập đá khổ sai. Công cụ lao động là “búa” và “tay”’, hành động mạnh mẽ là “đánh tan” và “đập bể”. Không phải là hòn đá nhỏ mà là “năm bảy đống” và “mấy trăm hòn”. Hai câu 3, 4 mang hàm nghĩa sâu sắc, thể hiện một quyết tâm sắt đá, một chí khí hào hùng, không nao núng, không lùi bước trước mọi gian khổ hy sinh. Câu thơ tưởng như chất chứa, nuna nấu bao uất hận căm thù muốn “đánh tan”, muốn “đập bể” mọi kẻ thù, mọi thử thách:

           “Xách búa đánh tan năm bảy đống,

            Ra tay đập bể mấy trăm hòn.”

   3. Hai câu luận đối nhau. Tác giả sử dụng hình ảnh tượng trưng và ẩn dụ rất đặc sắc. “Tháng ngày” chỉ thời gian bị tù đày, bị khổ sai kéo dài; “mưa nắng” tượng trưng cho gian khổ. gian nan, cho mọi nhục hình, đày đọa. Trước những thử thách ghê gớm ấy, người chiến sĩ “bao quản” chí khí. “Thân sành sỏi”, “dạ sắt son” là hai ẩn dụ nói lên chí khí bền vững, lòng son sắt thủy chung đối với nước với dân của một đấng nam nhi. có chí lớn, của một kẻ sĩ chân chính: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Cũng như lửa thử vàng, gian nan thử sức, ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong, Phan Châu Trinh đã khẳng định cốt cách và tâm thế của mình. Câu thơ vang lên như một lời thề:

               ‘‘Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,

                  Mưa nắng chi sờn dạ sắt son. ”

    4. Hai câu kết mượn sự tích “vá trời’’ của bà Nữ Oa trong thần thoại Trung Hoa để nói lên chí lớn làm cách mạng, cứu nước cứu dân. Dù “có lỡ bước” có gặp khó khăn, có tạm thời thất bại, dù có nếm trải gian nan cay đắng tù đày thì với nhà chí sĩ chân chính “việc “con con ” ấy không đáng kể, không đáng nói, không đáng quan tâm. Tác giả sử dụng thủ pháp tương phản (gian nan >< việc con con), dùng cách nói khoa trương (những kẻ vá trời) để biểu thị dũng khí hiên ngang, tinh thần lạc quan trước cảnh tù đày:

                         ‘‘Những kẻ vá trời khi lỡ bước,

                            Gian nan chi kể việc con con. ”

III. Kết bài

   Đập đá ở Côn Lôn bài thất ngôn bát cú Đường luật rất đặc sắc độc đáo. Ngôn ngữ hàm súc. Kết hợp tả thực với tượng trưng, sử dụng ẩn dụ với biện pháp nghệ thuật khoa trương, tác giả đã sáng tạo nên những vần thơ đẹp bày tỏ một tư thế ngang tàng, một khí phách hiên ngang, một tấm lòng son sắt thủy chung với nước, với dân, với sự nghiệp cách mạng của người chiến sĩ vĩ đại.

   Bài thơ Đập đá ở Côn Lôn là một bài ca yêu nước của một sĩ phu anh hùng làm ta tôn kính và ngưỡng mộ.

 

Đề 4Qua bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu, em hãy làm sáng tỏ lòng yêu cuộc sống và niềm khát khao tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi trong cảnh tù ngục .

1. Mở bài:

 - Giới thiệu về Tố Hữu và hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Bài thơ được sáng tác tháng 7 năm 1939 tại nhà lao Thừa Phủ (Huế), khi tác giả bị bắt giam vào đây chưa lâu. Người thanh niên say mê lý tưởng cách mạng, yêu đời bị giam cầm trong lao tù cảm thấy ngột ngạt vì mất tự do, náo nức hướng ra cuộc sống bên ngoài, muốn thoát ra để trở về với cuộc sống tự do, với hoạt động cách mạng.

    - Nêu nội dung lòng yêu cuộc sống và niềm khát khao tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng được thể hiện qua bài thơ.

2. Thân bài: Học sinh làm sáng tỏ lòng yêu cuộc sống, niềm khát khao tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi đang bị giam cầm trong tù ngục được thể hiện bằng những hình ảnh gợi cảm và thể thơ lục bát giản dị mà tha thiết...

+ Ý thứ nhất: Bài thơ thể hiện sâu sắc lòng yêu cuộc sống qua cảnh trời đất vào hè trong tâm tưởng người tù cách mạng (6 câu thơ đầu).

   - Hình ảnh mùa hè với tiếng ve, lúa chiêm đang chín, bầu trời cao rộng, đặc biệt tiếng chim tu hú đã thức dậy mùa hè rộn rã âm thanh, rực rỡ sắc màu, ngọt ngào hương vị:

                              “Khi con tu hú gọi bầy

                    Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần...”

   - Hình ảnh mùa hè hiện lên trong tâm tưởng người chiến sĩ cách mạng đang bị giam cầm trong chốn lao tù là sự cảm nhận của một tâm hồn trẻ trung, tràn đầy lòng yêu cuộc sống...

+ Ý thứ hai: Bài thơ thể hiện niềm khát khao tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng bị giam cầm trong chốn lao tù…(4 câu thơ cuối)

   - Bốn câu thơ cuối thể hiện tâm trạng người tù cách mạng: đó là tâm trạng đau khổ, uất ức, ngột ngạt được nói lên trực tiếp: “Ta nghe hè dậy bên lòng

                       Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!”

   - Tâm trạng ấy như truyền tới người đọc cảm giác ngột ngạt cao độ, đồng thời thể hiện niềm khát khao tự do cháy bỏng: muốn thoát ra khỏi cảnh ngục tù, trở về với cuộc sống tự do bên ngoài:

                                 “Ngột làm sao, chết uất thôi

                          Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu !”

HS có thể mở rộng bằng một số câu thơ khác trích trong các bài thơ “Ngắm trăng”, “Đi đường” (Nhật kí trong tù – Hồ Chí Minh) để làm phong phú cho bài làm...

3. Kết bài:

     - Khẳng định lòng yêu cuộc sống và niềm khát khao tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng được thể hiện qua bài thơ.

     - Học sinh có thể liên hệ bản thân qua lòng yêu cuộc sống, qua nghị lực vượt khó để góp phần bảo vệ độc lập, tự do của đất nước.

 

        

Đề 5: Chứng minh rằng ba bài thơ: Nhớ rừng (Thế Lữ), Khi con tu hú (Tố Hữu), Ngắm trăng (Hồ Chí Minh) cùng bộc lộ một chủ đề: Niềm khao khát cuộc sống tự do mãnh liệt của con người.
1.Mở bài:
    Nhà văn, nhà thơ khi cầm bút sáng tác là gửi gắm vào tác phẩm tâm tư, tình cảm của mình. Vì thế khi đọc tác phẩm văn học ta thấy hiện lên chân dung tâm hồn người viết. Mỗi tác phẩm là một thế giới tâm hồn, tình cảm riêng. Nhưng đọc
 Nhớ rừng (Thế Lữ), Khi con tu hú (Tố Hữu) và Ngắm trăng (Hồ Chí Minh) ta cùng bắt gặp một niềm khao khát cuộc sống tự do mãnh liệt của con người.
2.Thân bài:
2.1. Niềm khao khát cuộc sống tự do mãnh liệt vừa được thể hiện trực tiếp vừa được thể hiện gián tiếp trong mỗi tác phẩm.
-
 Với Nhớ rừng của Thế Lữ khát vọng cuộc sống tự do ấy bày tỏ kín đáo mà mạnh mẽ qua tâm trạng con hổ nhớ rừng. Con hổ đang nằm trong cũi sắt vườn bách thú. Nó vô cùng cay đắng và căm uất:       Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt
             Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua
đó là nỗi uất hận của
 hùm thiêng khi đã sa cơ phải chịu nhục nhằn, tù hãm, phải sống trong cảnh tầm thường, giả dối:
            Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng
           Dải nước đen giả suối chẳng thông dòng
           Len dưới nách những mô gò thấp kém
Cảnh vườn bách thú tù túng đó phải chăng là cái thực tại xã hội đương thời được nhà thơ cảm nhận? Không thế sao bài thơ gây ấn tượng mạnh với độc giả đương thời đến thế ! Và Thế Lữ đâu hoài công nói về một con hổ. Con hổ sống trong cảnh giam cầm tù hãm đó nhớ tiếc đến đau đớn cả một thời oanh liệt đã qua:
          Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
         Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa
Những ngày xưa
 là cả một quá khứ huy hoàng. Hổ sống tự do giữa giang sơn của mình với những gì lớn lao, phi thường, mãnh liệt và dữ dội, hoang vu: gió goà ngàn, nguồn hét núi, vờn bang âm thầm lá gai cỏ sắc. Trong quá khứ đã qua ấy, nó được tự do tận hưỡng cảnh sống khi thì thơ mộng: những đêm vàng bên bờ suối đứng say mồi uống ánh trăng tan, khi thì rộn rã , tưng bừng bình minh cây xanh nắng gội, tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng, khi thì mãnh liệt và dữ dội: những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn, những chiều lênh láng máu sau rừng. Nhưng tất cả đã qua, đã không còn: 
          Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu!
Tiếng than đầy u uất, đầy đau đớn có phải chăng chỉ là của con hổ? Không! Nó chính là nỗi đau và tâm trạng hoài vọng của Thế Lữ, của những người yêu nước đương thời. Con hổ càng căm ghét cảnh sống thực tại, càng nhứ tiếc da diết quá khứ thì càng khat khao trở lại rừng xưa:
        Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
        Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
       Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
Khát vọng trở lại rừng xưa của con hổ cũng là kháy vọng về cuộc sống tự do của cả một lớp người, của cả một dân tọc trong những năm tháng nô lệ.
 
- Còn với bài thơ Khi con tu hú(Tố Hữu) khát vọng tự do được bày tỏ một cách trực tiếp với ý chí bất khuất: Quyết sống vì tự do! Quyết chết vì tự do!
Giữa chốn ngục tù của thực dân, người chiến sĩ cộng sản bỗng bắt gặp tiếng chim tu hú gọi bầy. Theo tiếng chim là cả một không gian hè với tiếng ve ngân trong vườn, với sân đầy bắp vàng, với bầu trời xanh cao rộng. Đặc biệt là hình ảnh đôi con diều sáo lộn nhào từng không – thật tự do, thật thoải mái với khát vọng tung hoành. Nó đối lập hoàn toàn với cảnh tù ngục. Vì vậy mà người chiến sĩ uất hận, sôi sục:
        Ta nghe hè dậy bên lòng
       Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi!
      Ngột làm sao chết uất thôi
      Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu
Lòng uất hận dâng trào muốn phá tung chốn ngục tù chật chội, ngột ngạt để trở về cuộc sống tự do. Mùa hè đến với bao âm thanh dậy trong lòng, thôi thúc, giục giã người chiến sĩ cách mạng không cam chịu cảnh tù đày mà hãy đập tan phòng xà lim chật chội. Tiếng chim tu hú vừa gợi nhớ vừa thúc giục đến với tự do. Vì thế
 Khi con tu hú không chỉ tái hiện cảnh tù đày mà còn là bày tỏ lòng yêu đời, khát vọng tự do, muốn tung phá, giải phóng của nhà thơ.
- Đến với Ngắm trăng (Hồ Chí Minh) ta bất chợt chùng lòng bởi vẻ đẹp tâm hồn chiến sĩ thi sĩ. Cũng ở trong cảnh tù ngục mà ngục tù không giam được tâm hồn tha thiết yêu đời, yêu cuộc sống của Người. Đối lập với cảnh tù u ám là một đêm trăng đẹp:
       Trong tù không rượu cũng không hoa
       Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Rung động mãnh liệt trước cảnh trăng đẹp, người chiến sĩ cách mạng ung dung thưởng ngoạn trăng:
 
      Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
     Trăng nhòm khe của ngắm nhà thơ
Kì diệu thay là sức mạnh tinh thần! Mặc nhà tù đen tối, mặn hiện thức bạo tàn, Bác vẫn đến với vầng trăng thơ mộng bởi đó là thế giới tự do, là vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời.Phép đối và nhân hoá được sử dụng rất đắc dụng ở đây.Người tù hướng ra ngoài cửa sổ say ngắm vầng trăng sáng, vầng trăng vượt qua song sắt, qua khe cửa hẹp của nhà tù để ngắm nhà thơ.Nhà tù trở nên vô nghĩa lý trước những tri âm, tri kỷ. Đến với trăng là Bác đến với cái đẹp, với tự do. Vì thế mà cả bài thơ không có chữ tự do mà lại toát lên một tâm hồn rất tự do, luôn luôn làm chủ được mọi hoàn cảnh của Bác. Và thật chính xác khi khẳng định Ngắm trăng là
 một cuộc vượt ngục về tinh thần.
2.2. Có thể thấy rằng dù bằng cách này hay cách khác mỗi tác phẩm đều thể hiện niềm khao khát cuộc sống tự do mãnh liệt. ẩn sâu bên trong nó là gì nếu không phải là tình yêu quê hương đất nước sâu nặng. Những vần thơ tràn đầy cảm xúc lãng mạn trong Nhớ rừng đã khơi gợi lòng yêu nước thầm kín của những người dân mất nước thuở ấy. Còn trong bài thơ Khi con tu hú là sự bày tỏ lòng yêu cuộc sống qua niềm khao khát tự do cháy bỏng bằng những vần thơ lục bát giản dị, thiết tha của Tố Hữu. Với Tố Hữu được tự do là được cống hiến, được chiến đấu vì lý tưởng cao quý. Và Ngắm trăng- bài thơ tứ tuyệt giản dị, hàm súc là dẫn chứng thuyết phục nhất cho thấy tinh thần thép- phong thái ung dung lạc quan của Bác Hồ trước kẻ thù. Cội nguồn của phong thái đó là niềm tin vào tương lai cách mạng của Bác.
3. Kết bài:
    Thật vậy, mỗi bài thơ là một vẻ đẹp của tâm hồn người viết. Dù nội dung và hình thức có khác nhau thì tựu trung lại vẫn là bày tỏ khát vọng của mình: khát vọng tự do. Nó là nỗi niềm khôn nguôi trong lòng người dân Việt Nam khi mất nước. Nó đã tạo nên sức mạnh để non sông Việt Nam thu về một mối, đất nước sạch bóng quân thù.


= = = = = = = = š&› = = = = = = = =

 

                                                               NGƯỜI SOẠN

 

 

 

 

                                                                                                                                                                                              NGUYỄN THỊ HƯỜNG

 

 

 

 


 

 

 

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Hường

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn